CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm Báo điện tử là loại hình báo chí xuất hiện muộn so với báo in, truyền hình, phát thanh. Sự xuất hiện và bùng nổ của Internet đã tạo tiền đề cho sự ra đời, phát triển của báo điện tử. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tờ báo điện tử đầu tiên - Chicago Tribune ra đời vào tháng 5/1992 đã đánh dấu sự phát triển chóng mặt của báo điện tử.
Đầu năm 2000, trên thế giới đã ghi nhận lên tới 8.474 tờ báo điện tử, tiếp đến là các hãng thông tấn lớn trên thế giới như: Reuter, AFP… các đài truyền hình và các tờ báo Washington Post, The New York Times,. đều có tờ báo điện tử của mình. Tại Việt Nam, tờ báo trực tuyến đầu tiên đó là tờ tạp chí Quê hương điện tử. Đây là tờ tạp chí của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao, phát hành số đầu tiên vào ngày 06/02/1997 và chính thức khai trương ngày 03/12/1997.
Tiếp theo đó, ngày 19/12/1997, báo điện tử Vietnamnet trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông ra đời. Trên thế giới và tại Việt Nam có nhiều tên gọi khác nhau về loại hình báo chí này như: Báo điện tử (Electronic Journal), Báo trực tuyến (Online Newspaper); Báo mạng (Cyber Newspaper); Báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử. Theo khoản 6, Điều 3 Luật Báo chí 2016: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”. Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận báo chí” (2013), tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng Internet toàn cầu.
Là kênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạng điện tử đã hội tụ được nhiều ưu điểm nổi trội của các kênh truyền thông trước đó, đồng thời cũng bộc lộ những bất cập” [2, tr. 8 Báo trực tuyến, báo điện tử, báo mạng hay tin tức trực tuyến là loại hình báo viết được xây dựng theo hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet. Báo điện tử được tòa soạn điện tử xuất bản, còn người đọc báo dựa trên máy tính, thiết bị cá nhân như máy tính bảng, điện thoại di động,. có kết nối internet.
Đặc điểm P Tính đa phương tiện: Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (Multimedia). Multimedia có nghĩa là đa phương tiện, đây là thế mạnh vượt trội của báo điện tử, cho phép kết nối các loại hình truyền thông trong việc chuyển tải thông điệp, nhằm gây sự chú ý, hấp dẫn và gia tăng khả năng thuyết phục đối với công chúng. Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo in, báo phát thanh và báo truyền hình. P Tính tức thời và phi định kì: Nhờ vào sự phát triển của công nghệ đặc biệt là internet, báo mạng điện tử đã vượt qua các rào cản mà các loại hình báo chí khác vướng phải, nội dung thông tin không bị giới hạn bởi khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính.
Điều này giúp cho báo điện tử vượt trội hơn các loại hình khác về tốc độ thông tin, số lượng tác phẩm và đảm bảo tính thời sự của vấn đề. P Tính tương tác cao: Trong báo điện tử, độc giả dễ dàng tương tác hơn so với các loại hình báo chí khác, người đọc có thể chủ động tìm kiếm và lựa chọn thông tin hơn chỉ là đơn thuần nhận thông tin từ nhà báo. Độc giả còn tham gia vào quá trình cung cấp thông tin, nhờ đó khoảng cách giữa độc giả và nhà báo được rút ngắn lại, là động lực thúc đẩy sự phát triển và góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông. P Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin: Báo điện tử không bị giới hạn bởi số trang, khuôn khổ hay thời lượng, chương trình như các loại hình báo chí khác.
Thông tin được lưu trữ dưới dạng đĩa từ có dung lượng cực lớn và có thể xem lại bất cứ lúc nào, theo ngày, chủ đề,… với số lần mà độc giả mong muốn. Điều này vô cùng khó khăn đối với truyền hình hay phát thanh. P Tính xã hội hóa cao, khả năng cá thể hóa tốt: Nhờ vào sự phủ sóng của mạng toàn cầu Internet, báo mạng điện tử không có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó dễ dàng có thể thấy tính xã hội hoá rất cao ở loại hình báo chí 9 mới mẻ này. Ngoài ra, báo điện tử có độ lan toả cao, chi phí thấp, đồng thời thông tin lại có giá trị sử dụng cao hơn do được đọc theo nhu cầu của độc giả.
Khái niệm thông tin và thông tin đồ hoạ trên báo điện tử 1. Thông tin và thông tin báo chí Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin. Khái niệm "Thông tin" bắt nguồn từ tiếng Latinh Informetio, gốc tiếng Anh là Information, có nghĩa là giải thích, trình bày. Theo Philipppe Breton và Serge Proulx trong tác phẩm “Bùng nổ truyền thông” đã giải thích khái niệm thông tin như sau: “Khái niệm này có liên quan đến nét đặc trưng Rooma, biểu hiện của sự mong muốn giảng dạy, truyền đạt” [12, tr.
Theo đó, khái niệm thông tin có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome). Thứ hai là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt. Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức.52] Khái niệm thông tin theo “Từ điển Bách Khoa”, tác giả Nguyễn Như Ý được định nghĩa: “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo.
Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người. Ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loài động vật khác nhau”.22] “Thông tin” theo nghĩa gốc từ Hán Việt vừa là động từ, vừa là danh từ. Động từ là truyền đạt tin tức thông suốt đến mọi người. Danh từ được hiểu là bản thân nội dung, hình thức – tức là xét về mặt hàm lượng, chất lượng, hình thức của tin tức, của thông báo.
Thông tin là một khái niệm rất rộng, được sử dụng để miêu tả những dữ liệu, sự kiện, kiến thức hay ý nghĩa được chuyển đạt qua các kênh truyền thông, có thể được đưa ra cho một cá nhân, một nhóm hoặc những đối tượng khác nhau. Thông tin không chỉ bao gồm các tin tức, định kiến, tài liệu văn hóa và khoa học, thông tin thị trường và kinh doanh, mà còn bao gồm các dữ liệu số, hình ảnh, âm thanh và video. Thông tin cũng thể 10 hiện sự tương tác và trao đổi giữa các cá nhân, tổ chức và cộng đồng, giúp cho việc truyền đạt và chia sẻ thông tin trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2, Luật Tiếp cận thông tin 2016 định nghĩa: “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra”.
Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “Thông tin” được sử dụng với nhiều cách khác nhau, có khi chỉ là tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn, một chương trình phát thanh, truyền hình, các tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo.chúng đều có chứa đựng thông tin. Thông tin báo chí là dạng thông tin xã hội đặc thù, mang tính thời sự, phổ cập và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội với bốn yếu tố cơ bản đó là: nguồn phát, thông điệp (nội dung thông tin), kênh truyền tải (phương thức) và đối tượng tiếp nhận. Thông tin đồ hoạ Infographic là từ ghép của “Information” và “Graphic”, là sự kết hợp thông tin ngắn gọn với hình ảnh minh hoạ màu sắc sinh động, bắt mắt để có thể truyền tải thông tin, dữ liệu một cách rõ ràng và nhanh chóng. Trong tiếng Anh, thông tin đồ hoạ còn được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: Infomation, Graphic, Newpaper Infomation Graphic,… nhưng tựu chung lại những tên gọi đó đều mang yếu tố đó là thông tin và đồ hoạ.
Một số nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng, đồ hoạ là một lĩnh vực truyền thông, trong đó thông điệp được tiếp nhận thông qua con đường thị giác. Thiết kế đồ hoạ là tạo ra các giải pháp bằng hình ảnh cho các vấn đề truyền thông. Chính vì vậy có hai thuật ngữ là thông tin đồ hoạ nói chung (Infomation Graphics) và đồ hoạ tin tức dùng cho báo chí nói riêng (Newsgraphics). Tại Việt Nam, các thuật ngữ về đồ hoạ được đặt tên dựa trên ý nghĩa sử dụng của nó, do vậy chỉ mang tính tương đối.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999) do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên thì: “Đồ hoạ là nghệ thuật tạo hình lấy nét vẽ, nét khắc hoạ mảng hình tách bạch làm ngôn ngữ 11 chính” [16, tr. Đồ hoạ là một dạng thể hiện thông tin, dữ liệu hoặc có thể bằng hình ảnh trực quan. Theo đó, tác giả Nguyễn Như Ý cũng cho rằng: “Trực quan hoá là việc sử dụng bất kỳ kỹ thuật nào để tạo ra hình ảnh, sơ đồ hoặc hình ảnh động để truyền tải một thông điệp” [16, tr. Trong tác phẩm “Báo chí và truyền thông đa phương tiện”, tác giả Nguyễn Thị Trường Giang định nghĩa: “Đồ hoạ là khái niệm thuộc ngành thiết kế, là nghệ thuật dùng chữ, màu sắc, hình khối, bố cục,… để chuyển tải thông điểm cụ thể trong ứng dụng đời sống” [3, tr.
Còn trong tác phẩm “Thuật ngữ Báo chí - Truyền thông”, tác giả Phạm Thành Hưng đưa ra khái niệm: “Đồ hoạ là một nghệ thuật tạo hình truyền thống, mô tả sự vật và sáng tạo hình ảnh chỉ bằng đường nét, không dùng màu sắc” [10, tr.