CHƯƠNG 1 Chương này đã giới thiệu tổng quát các nghiên cứu trước được thực hiện ở trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Kết quả từ các nghiên cứu trước có thể xác định khoảng trống cần nghiên cứu và làm nền tảng thực hiện các bước tiếp theo của luận văn. Để đạt được mục đích đó, việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày theo hai phần lần lượt nước ngoài và trong nước dựa trên cơ sở chọn lọc các nghiên cứu tiêu biểu đã công bố có nội dung liên quan đến luận văn. Sau đó, dựa trên cơ sở những nghiên cứu đã tổng kết, tác giả tiến hành đánh giá các nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cũng như định hướng nghiên cứu cho luận văn.
123doc 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận 2. Khái niệm hành vi điều chỉnh lợi nhuận “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng xét đoán trong báo cáo tài chính và trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế nhằm sửa đổi các thông tin trên báo cáo tài chính để gây hiểu nhầm cho một số bên liên quan về hiệu quả kinh tế cơ bản của công ty hoặc để ảnh hưởng đến kết quả hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán đã báo cáo” (Healy, 1999, trang 368). Ronen và Yaari (2008, trang 27) định nghĩa “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một tập hợp các quyết định quản lý dẫn đến việc không báo cáo lợi nhuận ngắn hạn và giá trị gia tăng tối đa thực sự theo hiểu biết của nhà quản trị.
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể: Có lợi: khi báo hiệu giá trị dài hạn; Có hại: khi che giấu giá trị ngắn hạn hay dài hạn; Trung tính: khi cho thấy kết quả thực trong ngắn hạn”. Động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Theo tổng hợp của Verbruggen và các cộng sự (2008), có 5 động cơ dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Động cơ thị trường chứng khoán Theo Verbruggen và các cộng sự (2008), trong các cộng cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận thì những ưu đãi có liên quan đến thị trường chứng khoán luôn được chú ý nhất. Sự tương tác giữa số liệu kế toán và phản ứng của thị trường chứng khoán thực sự có thể thúc đẩy nhà quản trị thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Đầu tư vào cổ phiếu có thể là một sự mạo hiểm. Đó là lý do tại sao các nhà đầu tư thường dựa vào quan điểm và dự báo của các nhà phân tích thị trường chứng khoán để tập hợp một danh mục các công ty có tiềm năng thành công. Đáp ứng hoặc vượt dự báo của các nhà phân tích có vẻ là động lực quan trọng cho các công ty thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. 123doc 13 Theo nghiên cứu của Payne và Robb (2000), nếu lợi nhuận thực tế thấp hơn dự đoán, các nhà quản trị sẽ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận tăng.
Nếu lợi nhuận thực tế cao hơn dự báo, các nhà quản trị có thể lựa chọn giữa điều chỉnh giảm lợi nhuận hoặc không thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các nghiên cứu của Baker và các cộng sự (2003), Bartov và Mohanram (2004), Kwon và Yin (2006) cho thấy mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và bồi thường cổ phiếu thông qua lựa chọn cổ phần. Tóm lại, việc điều chỉnh lợi nhuận nhằm gia tăng các lợi ích mang lại từ việc tăng giá cổ phiếu, gia tăng giá trị thị trường của công ty niêm yết hoặc làm gia tăng thu nhập cho các nhà quản lý là lý do thúc đẩy doanh nghiệp và các nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Báo hiệu/che giấu thông tin cá nhân Việc che dấu thông tin liên quan đến lợi ích cá nhân, che dấu các điểm yếu, các khoản thua lỗ… cũng là các động cơ khiến cho các công ty, nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Rosner (2003) đã kiểm tra xem liệu các công ty làm ăn thua lỗ có thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận và thay đổi tài khoản hàng năm để che giấu khó khăn về tài chính của họ. Không đo lường các hậu quả ngay lập tức về giá cổ phiếu hoặc bồi thường của Giám đốc điều hành, Rosner đã chỉ ra sự tồn tại của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đơn giản là để che giấu thông tin. Louis và Robinson (2005) gợi ý rằng tín hiệu dồn tích, kết hợp với một tín hiệu như chia cổ phiếu có thể là một cách hiệu quả để truyền thông tin cá nhân về sự lạc quan của công ty. Nghiên cứu của Tucker và Zarowin (2006) cũng chỉ ra việc các nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận vì lợi ích của họ hay cải thiện tính tin cậy.
Các tác giả đã chứng minh bằng thực nghiệm về tác động quan trọng của việc sử dụng các quyết định trong báo cáo tài chính của các nhà quản lý là để tiết lộ thêm thông tin về lợi nhuận và dòng tiền trong tương lai của các công ty. Đối phó các chính sách pháp luật 123doc 14 Để đối phó với chính sách thuế, các điều kiện niêm yết, phát hành thêm chứng khoán…cũng dẫn đến việc các công ty sẽ thựuc hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng các tiêu chuẩn này. Haw và các cộng sự (2005) đã chỉ ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận ngày càng tăng ở Trung Quốc để đối phó với quy định của chính phủ về yêu cầu tối thiểu là 10% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho các công ty muốn phát hành trái phiếu hoặc chào bán cổ phiếu. Nghiên cứu của Johnston và Rock (2005) cho thấy các công ty đã thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi bị đe dọa bởi đạo luật Superfund.
Theo Monem (2003), khi số liệu kế toán là cơ sở để tính thuế, có thể có các biện pháp nhằm giảm số thuế phải nộp thông qua thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Không chỉ chính phủ có thể nhận được thông tin sai lệch bởi hành vi điều chỉnh lợi nhuận. D'Souza, Jacob và Ramesh (2001) cung cấp bằng chứng cho thấy các công ty thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận để giảm chi phí đàm phán lao động. Nhiều công ty có tổ chức công đoàn có khả năng lựa chọn các phương pháp thông qua sự công nhận ngay lập tức của SFAS 106 (phúc lợi tạm thời), do đó ảnh hưởng đến báo cáo lợi nhuận và sức mạnh đàm phán lao động.
Tạo dựng hình ảnh của giám đốc Nghiên cứu của Godfrey và các cộng sự (2003) cho thấy một nhà quản trị mới sẽ có khuynh hướng làm cho thu nhập năm họ tiếp quản thấp hơn so với những năm liền kề sau đó để chứng tỏ khả năng điều hành của mình. Bên cạnh đó, Reitenga và Tearny (2003) chứng minh rằng các nhà quản trị trước khi nghỉ cũng có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được những lợi ích từ các cổ phiếu nắm giữ hoặc để có được vị trí trong Hội đồng quản trị. Động cơ nội bộ Việc điều chỉnh lợi nhuận được sử dụng để đáp ứng các chỉ tiêu đánh giá thành quả thực hiện. Động cơ này có thể xuất phát từ phía nhà quản trị cấp cao để đối phó với các cổ đông bên ngoài nhưng chủ yếu sẽ rơi vào trường hợp các nhà 123doc 15 quản trị cấp trung để tạo ra hiệu quả quản lý như mong đợi từ các cấp trên, để thăng tiến hoặc đạt được các mục tiêu kế hoạch đã đề ra.
Theo Murphy (2001), các công ty sử dụng các tiêu chuẩn được xác định từ bên ngoài ít có khả năng thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận hơn các công ty sử dụng tiêu chuẩn nội bộ. Các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận Theo Verbruggen và các cộng sự (2008) tổng hợp được, có 4 cách để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Điều chỉnh lợi nhuận thông qua các khoản ước tính kế toán Việc sử dụng các khoản ước tính kế toán để quản lý thu nhập thường liên quan đến một tình huống đặc trưng, một ngành công nghiệp đặc trưng hoặc một tiêu chuẩn kế toán đặc trưng. Marquardt và Wiedman (2004) đã nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các khoản ước tính kế toán được sử dụng trong các tình huống đặc trưng như chào bán vốn cổ phần, quản lý mua lại và giảm thu nhập.
Một số ngành đặc trưng được nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các khoản ước tính kế toán là ngành ngân hàng (Capalbo (2003) và Gray and Clarke (2004)), ngành bảo hiểm (Beaver và cộng sự (2003)) và các công ty bất động sản đầu tư (Dietrich và cộng sự (2001)). Trong mỗi ngành này, một khoản ước tính kế toán đã sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận, tương ứng với khoản dự phòng rủi ro tín dụng, kế toán hưu trí, dự phòng tổn thất và định giá tài sản. Điều chỉnh lợi nhuận thông qua phân bổ chi phí và chuyển đổi thu nhập Các công ty có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng cách phân bổ chi phí chung cho các hoạt động được đánh giá cao bởi công chúng, bằng cách chuyển chi phí từ khoản mục này sang khoản mục khác hoặc bằng cách chuyển chi phí / doanh thu đến / từ các công ty con khác nằm trong khu vực có chính sách thuế hay chế độ kế toán khác. 123doc 16 Hầu hết các báo cáo thu nhập tách riêng doanh thu và chi phí cốt lõi với doanh thu và chi phí tài chính và với các khoản mục đặc biệt.
Do sự chú ý của người sử dụng báo cáo tài chính đối với dữ liệu tài chính cốt lõi, việc chuyển đổi chi phí từ “chi phí cốt lõi” sang “các khoản mục đặc biệt” có thể có ích cho các công ty. Jaggi và Baydoun (2001) đã kiểm tra điều này ở Hồng Kông và McVay (2006) đã tìm thấy bằng chứng về những thực tiễn như vậy ở Mỹ. Điều chỉnh lợi nhuận thông qua công bố thông tin Jo và các cộng sự (2007) đã tìm ra bằng chứng cho thấy tần suất công bố thông tin có tương quan nghịch đến việc điều chỉnh lợi nhuận. Tính công khai minh bạch bị giảm đáng kể tập trung ở các công ty trong mẫu nghiên cứu, nhưng lại tạm thời gia tăng tiết lộ thông tin trước đợt chào bán.
Các công ty này thường thực hiện điều chỉnh lợi nhuận nhiều hơn.