chương 1, chương này sẽ làm rõ các khái niệm nghiên cứu, mối quan hệ giữa chúng và dẫn ra các nghiên cứu có liên quan để từ đó đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu.1 Trách nhiệm xã hội 2.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội Đã có nhiều cách định nghĩa của các học giả khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) nhưng cho đến nay định nghĩa về CSR vẫn còn mơ hồ và chưa rõ ràng (Skudience and Auruskevicienene, 2010). Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới và Sự Phát triển Bền vững thì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm…theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội (Nguyễn Đình Tài, 2010). Tuy nhiên, định nghĩa rộng hơn và được chấp nhận hơn 30 năm qua cho đến bây giờ vẫn chấp nhận là định nghĩa Carroll (1991) thì có bốn loại trách nhiệm xã hội tạo thành tổng CSR: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Hơn nữa, bốn loại này được mô tả như một kim tự tháp theo thứ tự từ dưới lên là trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm từ thiện.
Trong đó, trách nhiệm kinh tế là nền tảng của các trách nhiệm khác. Các loại trách nhiệm đã luôn tồn tại ở một số phạm vi, nhưng những năm gần đây thì đạo đức và từ thiện có vị trí quan trọng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Trong khi đó, theo nghiên cứu của Abldour & cộng sự (2010) cũng cho rằng định nghĩa về CSR không phải là một kết luận duy nhất ngay cả trong lý thuyết mà nó có nhiều thảo luận chi tiết liên quan đến CSR. Nói chung, CSR đề cập đến việc ra quyết định kinh doanh liên quan đến giá trị đạo đức, phù hợp với luật pháp, tôn trọng con người, cộng đồng và môi trường.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng khái niệm trách nhiệm xã hội theo nghiên cứu của Abldour & cộng sự (2010) để làm cơ sở. Trách nhiệm xã hội liên quan đến giá trị đạo đức, phù hợp với luật pháp, tôn trọng con người, cộng đồng và môi trường. Skudiene và Auruskeviciene (2010) cùng với nhiều nghiên cứu khác trên thế giới đã chia trách nhiệm xã hội ra thành 2 nhóm: Trách nhiệm xã hội với bên trong (internal CSR) và trách nhiệm xã hội với bên ngoài (external CSR). Bởi vì việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với các đối tượng khác nhau là khác nhau.
Nhóm đối tượng bên trong tổ chức chính là người lao động và nhóm đối tượng bên ngoài tổ chức (bao gồm khách hàng, đối tác kinh doanh, xã hội, cộng đồng và môi trường).1 Trách nhiệm xã hội với bên trong (internal CSR) Hoạt động CSR bên trong liên quan đến các hoạt động trong công ty. Người lao động được xem rất là quan trọng trong nhóm đối tác bên trong tổ chức và các hoạt động CSR đáp ứng cho sự mong đợi và nhu cầu của người lao động. Mối liên quan CSR và người lao động được đề cập: kỹ năng, công bằng xã hội, sức khỏe, an toàn trong công việc, phúc lợi và sự hài lòng của người lao động, chất lượng công việc (Skudiene và Auruskeviciene, 2010). Theo Albdour & cộng sự (2010) thì hoạt động CSR bên trong liên quan trực tiếp đến môi trường làm việc tâm sinh lý của người lao động.
Nó đề cập đến sức khỏe, phúc lợi của người lao động, tham gia các hoạt động và được đào tạo, tạo cơ hội công bằng, sự cân bằng công việc và gia đình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Trách nhiệm xã hội với bên ngoài (external CSR) Trách nhiệm xã hội với bên ngoài liên quan đến các hoạt động công ty ở bên ngoài với các bên liên quan: khách hàng, cộng đồng, đối tác kinh doanh (Skudiene và Auruskeviciene, 2010). Theo Albdour & cộng sự (2010) thì cho rằng trách nhiệm xã hội bên ngoài liên quan đến các hoạt động: từ thiện, tình nguyện và bảo vệ môi trường. Trách nhiệm xã hội đối với khách hàng: là sự mong đợi được cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tốt, chất lượng, thân thiện với môi trường.
Khách hàng không chỉ mong đợi về chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà còn mong đợi đến công ty có hệ thống giải quyết khiếu nại của khách hàng. Hơn nữa, khách hàng thích những sản phẩm mà nó tuân thủ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội. Do đó, trách nhiệm xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến khách hàng (Skudiene và Auruskeviciene, 2010). Trách nhiệm xã hội với đối tác kinh doanh: Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội là một đối tác kinh doanh tốt.
Doanh nghiệp khuyến khích các đối tác kinh doanh của họ về cải tiến sản phẩm và dịch vụ bằng cách chia sẻ những mục tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn đã được chấp nhận. Kiểm soát các tiêu chuẩn lao động của nhà cung cấp hoặc các đối tác kinh doanh khác theo yêu cầu pháp lý cũng như thực hiện quá trình xử lý khiếu nại là một phần thực hiện CSR trong doanh nghiệp. Nói cách khác, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động CSR là thực hiện các giao dịch công bằng với nhà cung cấp hay đối tác kinh doanh khác (Skudiene và Auruskeviciene, 2010). Trách nhiệm xã hội với cộng đồng bao gồm các hoạt động tài trợ: tài trợ thể thao hay những sự kiện văn hóa, nghệ thuật.
Ngoài ra, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội với cộng đồng nếu họ đầu tư cơ sở hạ tầng vào đường xá, hệ thống nước, trường học, bệnh viện; phát triển các hoạt động cộng đồng và khuyến khích nhân viên tham gia vào những dự án cộng đồng; giúp đỡ trẻ em bị tàn tật hoặc dân tộc thiểu số; hỗ trợ tài chính cho những dự án cộng đồng phi lợi nhuận…Tất cả các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hoạt động trách nhiệm xã hội này không những tạo ra giá trị cho cộng đồng mà còn cho cả tổ chức đó (Skudiene và Auruskeviciene, 2010). Các hoạt động từ thiện là các hành động trợ giúp cho những người yếu kém thông qua hình thức quyên góp, hiến tặng bằng tiền hoặc hiện vật, xóa đói giảm nghèo, chương trình học bổng và đóng góp cho các tổ chức phi lợi nhuận. Thực tế, một số doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện nhằm nâng cao danh tiếng của công ty hay của người chủ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp tham gia các hoạt động từ thiện mong muốn được nhận biết thương hiệu, kích thích năng suất của người lao động, nâng cao lòng trung thành của nhà cung cấp và khách hàng.
Trong ngắn hạn, hoạt động từ thiện được xác định là chất xúc tác tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp và cộng đồng (Albdour & cộng sự, 2010). Các hoạt động tình nguyện là sự đóng góp về nguồn nhân lực, thời gian, kỹ năng cho cộng đồng và các tổ chức phi lợi nhuận hoặc những sự kiện tình nguyện. Các hoạt động tình nguyện mang đến nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp ngày nay lập ra các chương trình khuyến khích nhân viên tham gia tình nguyện với mục tiêu xây dựng lòng tốt, rèn luyện kỹ năng, kinh nghiệm thực tế và tăng cường đạo đức, lòng trung thành của nhân viên (Albdour & cộng sự, 2010).
Bảo vệ môi trường là việc các tổ chức tuân thủ các quy định để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, phòng ngừa ô nhiễm, thiết kế quy trình sản xuất và sản phẩm thân thiện môi trường (Albdour & cộng sự, 2010). Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng ít nhiều đến môi trường. Các tổ chức có thể giảm thiểu tác động xấu đến môi trường bằng cách giảm thiểu chất thải, khí thải và giảm tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên (Lakshan và Mahindadasa, 2011). Nhiều nghiên cứu cho thấy bảo vệ môi trường sẽ giúp nâng cao danh tiếng của tổ chức, giảm chi phí, quản lý rủi ro liên quan đến môi trường, và nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính (Albdour & cộng sự, 2010).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tình hình thực hiện và nghiên cứu về trách nhiệm xã hội ở Việt Nam Trên thực tế ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mặc dù là vấn đề mới mẻ nhưng bước đầu đã được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý. Bằng chứng là, từ năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng với các hiệp hội Da giày, Dệt may trao giải thưởng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển bền vững” nhằm tôn vinh các doanh nghệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập (Chuyển đổi – Luật Minh Khuê). Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh.
Do nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi của việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam, ngoài trách nhiệm đóng thuế cho nhà nước, đã đăng ký thực hiện trách nhiệm xã hội dưới dạng các cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình. Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo đảm an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động cho người lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã hội.
Vấn đề đặt ra hiện nay là, cần tìm nguyên nhân của các hiện tượng và những giải pháp để khắc phục tình trạng đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.