PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam chúng ta đã và đang đối mặt với tình hình lạm phát cao trong thời gian dài, đặc biệt là vào thời kỳ đổi mới với mức siêu lạm phát gần 800%/ năm, và gần đây nhất là vào giai đoạn 2006 cho đến hiện nay, tỷ lệ lạm phát luôn ở mức hai con số, đỉnh điểm là năm 2008 tỷ lệ lạm phát xấp xỉ 23%. Nhƣ chúng ta đã biết chỉ với mức lạm phát thấp thì có tác dụng kích thích nền kinh tế phát triển, còn lạm phát ở mức cao nhƣ Việt Nam chúng ta thì gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Lạm phát làm giảm sút nền sản xuất kinh doanh, làm giảm sút nguồn thu thuế của Nhà nƣớc, gây bất ổn cung cầu trong quan hệ mua bán lƣu thông hàng hóa, làm hệ thống tiền tệ tín dụng bị rối loạn và khó kiểm soát…Tóm lại lạm phát gây khó khăn cho toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Nhà nƣớc ta luôn xem việc kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu trong những năm gần đây. Việc phân tích rõ đƣợc những nhân tố ảnh hƣởng đến lạm phát trong giai đoạn hiện nay để từ đó đƣa ra đƣợc những chính sách và định hƣớng đúng đắn là một vấn đề bức thiết hiện nay. Vì thế em đã lựa chọn đề tài “Phân tích tác động của những yếu tố kinh tế vĩ mô đến lạm phát tại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình, với mục đích là xác định đƣợc đâu là những nhân tố gây nên lạm phát tại Việt Nam và ảnh hƣởng của các yếu tố ấy đến lạm phát ở Việt Nam nhƣ thế nào. Để từ đó có những đề xuất hợp lý trong công cuộc kiềm chế và kiểm soát vấn đề lạm phát ở nƣớc ta.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mục tiêu nghiên cứu Tổng hợp các lý thuyết nền tảng và một số các nghiên cứu trƣớc đây của thế giới và Việt Nam về phân tích lạm phát để có thể xây dựng đƣợc mô hình nghiên cứu cho trƣờng hợp Việt Nam. Thực hiện phân tích định tính về những nguyên nhân gây ra lạm phát giai đoạn 1995 – 2012, sau đó kết hợp với kết quả phân tích định lƣợng để kiểm định lại những nhân tố kinh tế vĩ mô trong và ngoài nƣớc thực sự ảnh hƣởng đến tỷ lệ lạm phát Việt Nam giai đoạn 1995 – 2012. Từ kết quả nghiên cứu có thể đề ra một số khuyến nghị cho việc kiểm soát lạm phát tại Việt Nam 3.
Câu hỏi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu đặt ra những câu hỏi nhƣ sau: Liệu cung tiền M2, Khoảng chênh sản lƣợng gap, tỷ giá VND/USD, giá dầu thế giới, và lạm phát kỳ vọng có ảnh hƣởng đến tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 - 2012 ? Trong các nhân tố kể trên thì nhân tố nào tác động mạnh nhất đến việc việc gia tăng tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2012 ? 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: o Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng – lạm phát của Việt Nam o Một số chuỗi biến số kinh tế nhƣ cung tiền M2, GDP thực, giá dầu thế giới, tỷ giá VND/USD TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Phạm vi thời gian: Số liệu đƣợc thu thập theo quý từ nhiều nguồn khác nhau trong giai đoạn 1995 – 2012 5. Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan về các yếu tố kinh tế vĩ mô liên quan đến lạm phát và mô hình nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng tác động các yếu tố kinh tế vĩ mô đến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1995 – 2012 Chƣơng 3: Giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát tại Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ LIÊN QUAN ĐẾN LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về lạm phát 1.
Khái niệm về lạm phát Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định. Mức giá chung là mức giá trung bình của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế ở kỳ này so với kỳ gốc. Ngoài ra, một số nhà kinh tế khác đã đƣa ra những khái niệm đề cập đến nguyên nhân, ảnh hƣởng, hay các đặc trƣng của quá trình lạm phát. Friedman cho rằng “Lạm phát là một hiện tƣợng tiền tệ tạo nên sự dƣ cầu về hàng hóa, tức là do lƣợng tiền trong nền kinh tế quá nhiều để theo đuổi một khối lƣợng hàng hoá có hạn”.
Nhìn chung, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trƣờng hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Phân loại lạm phát Trong kinh tế học, ngƣời ta chia lạm phát thành 3 loại: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, tức là lạm phát với tỷ lệ dƣới 10% một năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế. Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng tƣơng đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong một năm. Loại lạm phát này kéo dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
Siêu lạm phát: Siêu lạm phát đƣợc xác định khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng vƣợt quá 50%. Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, siêu lạm phát xuất hiện ở nhiều nƣớc châu Âu nhƣ Đức, Ba Lan, Áo, Nga và Hungary. Tại Việt Nam, giai đoạn 1986-1988, nền kinh tế đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát (liên tục ở mức 3 con số). Trong giai đoạn này, Nhà nƣớc đã sử dụng công cụ chính sách tiền tệ để kiềm chế và đã thành công.
Các chỉ số đo lường lạm phát Mức độ lạm phát đƣợc đo lƣờng bằng tỷ lệ lạm phát. Tỷ lệ lạm phát (Ký hiệu là If) là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong mức giá chung của kỳ này so với kỳ trƣớc. - Pt là chỉ số giá năm t - Pt-1 là chỉ số giá năm t-1 Hoặc được tính xấp xỉ theo công thức: If = lnPt – lnPt-1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - lnPt là giá trị ln của chỉ số giá năm t - lnPt-1 là giá trị ln của chỉ số giá năm t-1 Các chỉ số giá ở công thức trên có thể là một trong các chỉ số dƣới đây. Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là thƣớc đo mức giá chung của giỏ hàng hoá và dịch vụ điển hình mà ngƣời tiêu dùng mua.
Giỏ hàng hoá đƣợc ấn định đối với một năm cơ sở, chỉ số CPI là một chỉ số Laspeyres, đƣợc tính bởi công thức: Trong đó: Pti là giá của hàng hóa thứ i ở năm t Pi0 , Qi0 là giá và lƣợng của hàng hóa thứ i ở năm cơ sở b. Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator) GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lƣợng hàng hóa và dịch vụ, GDP thực tế sử dụng giá cố định để tính giá trị sản lƣợng hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trên lãnh thổ quốc gia. Chỉ số điều chỉnh GDP, còn gọi là chỉ số giảm phát theo GDP TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Pit , Qti là giá và lƣợng của hàng hóa thứ i ở năm t Pi0 là giá và lƣợng của hàng hóa thứ i ở năm cơ sở n là số lƣợng sản phẩm sản xuất trong một quốc gia c. Một số chỉ số khác Ngoài ra, ngƣời ta còn đo lƣờng lạm phát theo những chỉ số sau: ‾ Chỉ số giá sản xuất (PPI – Production Price Index): PPI là chỉ số đƣợc xây dựng để tính mức giá chung trong lần bán đầu tiên.
Chỉ số này rất có ích, vì nó đƣợc tính chi tiết sát với những thay đổi thực tế. ‾ Chỉ số giá bán buôn (WPI - Whosesale Price Index) đo sự thay đổi trong giá cả của hàng hóa bán buôn (thông thƣờng là trƣớc khi bán có thuế). Chỉ số này rất giống với PPI. ‾ Chỉ số giá bán lẻ (RPI - Retail Price Index) là chỉ số phản ánh tình hình biến động giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng theo thời gian (tháng, quý, năm hay một chu kì nhiều năm) và không gian (thị trƣờng thế giới, thị trƣờng toàn quốc, thị trƣờng khu vực, tỉnh, thành phố).
Chỉ số này đƣợc tính theo phƣơng pháp bình quân gia quyền số lƣợng hàng hoá lƣu thông trên thị trƣờng và giá bán lẻ hàng ở hai thời điểm khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tác động của lạm phát Nếu lạm phát ở mức thấp sẽ có tác dụng kích thích sản xuất, bôi trơn các hoạt động kinh tế, giúp nền kinh tế tăng trƣởng. Nhƣng một tỷ lệ lạm phát cao sẽ gây ảnh hƣởng tiêu cực đối với nền kinh tế Đời sống người dân trở nên khó khăn Do mất cân đối giữa lƣợng tiền và lƣợng hàng hóa nên sức mua đồng tiền giảm sút và giá cả hàng hóa ngày càng tăng, điều này làm cho đới sống ngƣời dân ngày càng khó khăn hơn, thậm chí có một bộ phận ngƣời dân với mức thu nhập thấp không thể đáp ứng đầy đủ những nhu cầu tối thiểu trong thời kỳ lạm phát.
Đối với lĩnh vực sản xuất Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự khó khăn cho quá trình sản xuất. Mặt khác khi tình trạng lạm phát xảy ra dai dẳng làm cho sức mua ngày càng yếu, khiến hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ đƣợc, điều này làm doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính và có thể dẫn đến phá sản. Và khi nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành nghề lâm vào khó khăn thì nền kinh tế sẽ rơi vào vòng suy thoái Đối với lĩnh vực lưu thông Lạm phát làm diễn ra quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa, gây hỗn loạn quan hệ cung cầu, tạo sự mất cân đối giả tạo làm cho lĩnh vực lƣu thông cũng bị rối loạn. Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thƣơng mại và ngân hàng bị thu hẹp.