PHẦN MỞ ĐẦU Bài luận văn này kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng Balassa – Samuelson tại Việt Nam. Cụ thể, bài nghiên cứu này sẽ sử dụng phƣơng pháp định lƣợng để xác định sự ảnh hƣởng trong chênh lệch mức tăng trƣởng năng suất lao động khu vực ngoại thƣơng và phi ngoại thƣơng lên tỷ giá hối đoái. Để làm đƣợc điều này, bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS để kiểm định bộ dữ liệu Việt Nam và 04 đối tác thƣơng mại chính bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc giai đoạn 1992 – 2015. Kết quả nghiên cứu không tồn tại bằng chứng hiệu ứng Balassa – Samuelson nội địa tại Việt Nam, nhƣng tìm thấy bằng chứng hiệu ứng tồn tại ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng không tìm thấy bằng chứng sự tồn tại của hiệu ứng Balassa – Samuelson quốc tế giữa Việt Nam và 04 quốc gia nghiên cứu. Từ khóa: Hiệu ứng Balassa – Samuelson, tỷ giá hối đoái, năng suất lao động, mức giá 123doc 2 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do thực hiện đề tài Năm 1920, Gustav Cassel, một nhà kinh tế học nổi tiếng ngƣời Thụy Điển đã đƣa ra lý thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity – PPP) dựa trên quy luật một giá (Law of one price – LOOP) và khẳng định rằng trong dài hạn thì tỷ giá giữa các quốc gia sẽ tƣơng đồng nhau. Hay nói cách khác, lý thuyết PP dự đoán rằng trong dài hạn, mức giá tƣơng đối – tỷ lệ giá giữa hai quốc gia sẽ xác định tỷ giá hối đoái (e = P/P*) và bất kỳ sự sai lệch của mức giá tƣơng đối khỏi tỷ giá cân bằng sẽ đƣợc “đảo ngƣợc về giá trị trung bình” (mean-reverting) trong dài hạn. Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã bác bỏ lý thuyết PPP tuyệt đối.
Ngoài những nguyên nhân đƣợc ra nhƣ liên quan đến vấn đề chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch và thị trƣờng không hoàn hảo, thì giải thích đƣợc xem là thuyết phục nhất là từ Balassa (1964) và Samuelson (1964) – đƣợc gọi là giả thuyết Balassa – Samuelson (BS) – đã khẳng định rằng chính sự chênh lệch năng suất giữa khu vực ngoại thƣơng và phi ngoại thƣơng giữa các quốc gia đã đƣa đến sự khác nhau trong tiền lƣơng, mức giá và kết quả là sự khác nhau trong tỷ giá hối đoái. Theo cơ chế hoạt động của hiệu ứng BS thì nếu tồn tại sự chênh lệch giữa tăng trƣởng năng suất lao động khu vực ngoại thƣơng và phi ngoại thƣơng ở quốc gia nội địa cao hơn so với một quốc gia bất kỳ, thì mức giá của khu vực phi ngoại thƣơng ở quốc gia nội địa sẽ tăng nhanh hơn. Trong cơ chế tỷ giá cố định, điều này sẽ dẫn đến một mức tăng chung trong mức giá của nền kinh tế, còn trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi thì điều này sẽ dẫn đến một sự kết hợp cả việc lạm phát gia tăng và sự tăng giá của tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Trong cả hai trƣờng hợp, thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng.
Tính đến thời điểm hiện tại, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đối với hiệu ứng BS đƣợc thực hiện ở hầu hết ở các nƣớc phát triển hoặc các nƣớc Châu Âu, thuộc tổ chức OECD và một số ít quốc gia ở Châu Á do vấn đề khó khăn trong khi thu thập dữ liệu theo khu vực đối với phần lớn các nƣớc đang phát triển. Nối tiếp 123doc 3 các thành tựu nghiên cứu trên thế giới, tác giả thực hiện đề tài “Tác động của hiệu ứng Balassa-Samuelson lên tỷ giá hối đoái - Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và các đối tác thƣơng mại lớn” trong giai đoạn 1992 – 2015.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là kiểm định mối quan hệ giữa sự chênh lệch trong năng suất lao động trong nƣớc so với nƣớc ngoài và tỷ giá hối đoái của Việt Nam và bốn quốc gia đối tác thƣơng mại lớn là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Hoa Kỳ giai đoạn 1992 - 2015.3 Câu hỏi nghiên cứu Một là, liệu sự gia tăng khác nhau giữa sự tăng trƣởng năng suất khu vực ngoại thƣơng và phi ngoại thƣơng của Việt Nam có liên quan đến sự gia tăng lạm phát của hai khu vực này hay không, hay nói cách khác, có tồn tại hiệu ứng BS nội địa ở Việt Nam hay không?. Hai là, liệu sự gia tăng khác nhau trong sự tăng trƣởng về năng suất giữa khu vực ngoại thƣơng và phi ngoại thƣơng ở Việt Nam so với sự khác biệt tƣơng tự ở mỗi quốc gia nghiên cứu có ảnh hƣởng đến tỷ giá thực song phƣơng giữa Việt Nam và các quốc gia đang nghiên cứu hay không, hay nói cách khác có tồn tại hiệu ứng BS quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia nghiên cứu hay không?.4 Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng nghiên cứu của Daan Steenkamp (2013) để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ các nguồn dữ liệu quốc tế nhƣ Quỹ tiền tệ Thế giới, Ngân hàng Thế Giới và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), kết hợp tham khảo đối chiếu với nguồn dữ liệu trong nƣớc nhƣ Tổng Cục Thống Kê.
Tác giả sử dụng phƣơng pháp hồi quy bình phƣơng bé nhất (OLS), thực hiện hồi quy bằng phần mềm Stata để đƣa ra kết luận cho bài nghiên cứu.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu Bài nghiên cứu đƣợc chia làm 05 chƣơng, trong đó: Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài. Trong chƣơng này, tác giả nêu ngắn gọn về lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, phƣơng pháp và cấu trúc của bài nghiên cứu. Chƣơng 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc đây. Chƣơng này sẽ nêu khái quát các lý thuyết nền tảng về hiệu ứng Balassa – Samuelson và các bài nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chênh lệch năng suất lao động và tỷ giá hối đoái.
Chƣơng 3: Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày nguồn gốc thu thập dữ liệu, cách xây dựng biến và các mô hình sử dụng trong bài nghiên cứu. Chƣơng 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chƣơng này trình bày kết quả hồi quy, các kiểm định có liên quan và trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra ở Chƣơng 1.
Chƣơng 5: Kết luận. Chƣơng này trình bày tóm tắt kết luận sau khi thực hiện đề tài, những điểm hạn chế của đề tài và hƣớng phát triển tiếp theo. 123doc 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƢỚC ĐÂY 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HIỆU ỨNG BALASSA – SAMUELSON 2.1 Lịch sử tên gọi hiệu ứng Balassa - Samuelson Những nghiên cứu tiếp cận sự chênh lệch trong năng suất lao động đối với PPP đã có từ lâu. Balassa (1964) và Paul Samuelson (1964) cùng lúc có cùng phƣơng pháp suy luận và kết luận về vấn đề này dựa trên lý giải của Hendrick Houthakker về học thuyết PPP của Gustav Cassel.
Vì vậy, vào thập niên 70, toàn bộ phƣơng pháp tiếp cận dựa trên nguồn cung trong nghiên cứu đối với tỷ giá hối đoái đều đƣợc đặt theo tên gọi của hai nhà nghiên cứu này. Không lâu sau đó, giới nghiên cứu phát hiện David Ricardo (1911) cũng đã có mô tả về hiệu ứng này, và Roy Harrod (1933) đã thật sự là ngƣời đầu tiên xây dựng mô hình đầy đủ cho hiệu ứng này. Từ cuộc tranh luận về tên gọi thật sự của hiệu ứng, trong kỷ niệm 30 của việc phát hiện, dựa trên kết quả nghiên cứu của những tác giá về hiệu ứng này, Samuelson (1994) đã đề xuất tên gọi mới cho lý thuyết là: Hiệu ứng Ricardo-Viner- Harrod-Balassa-Samuelson-Penn-Bhagwati. Tính tới hiện tại thì cả hai tên gọi đều đƣợc giới nghiên cứu học thuật chấp nhận.2 Nội dung hiệu ứng Balassa - Samuelson Nội dung lý thuyết BS giải thích hai hiện tƣợng: (i) Mức giá khác biệt giữa các quốc gia (The Peen Effect): Theo lý thuyết BS, khi năng suất lao động giữa khu vực ngoại thƣơng ở quốc gia chủ nhà tăng tƣơng đối so với năng suất lao động khu vực ngoại thƣơng của quốc gia bên ngoài, thì mức giá cả của quốc gia chủ nhà sẽ gia tăng do sự gia tăng ở tiền lƣơng chung, với giả định năng suất lao động của khu vực phi ngoại thƣơng của hai quốc gia là tƣơng đƣơng nhau.
Đây đƣợc gọi là hiệu ứng Peen, giải thích hiện tƣợng mức giá cả ở những quốc gia giàu có (có thu nhập bình quân đầu ngƣời cao) sẽ cao. (ii) Sự khác nhau ở tỷ giá hối đoái thực giữa các quốc gia (The BS effect): Lý thuyết BS cho rằng trong một quốc gia có năng suất lao động ở khu vực ngoại 123doc 6 thƣơng cao hơn những nƣớc khác thì tỷ giá hối đoái thực của quốc gia đó sẽ cao hơn. Theo giải thích chi tiết của Ballassa (1964), khi nền kinh tế phát triển, sự gia tăng trong tốc độ phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho sự gia tăng ở năng suất lao động. Tuy nhiên sẽ luôn tồn tại chênh lệch trong mức tăng trƣởng năng suất lao động giữa khu vực ngoại thƣơng và phi ngoại thƣơng.
Bởi vì, tăng trƣởng năng suất lao động khu vực ngoại thƣơng sẽ luôn cao hơn khu vực phi ngoại thƣơng do có khi không có sự tồn tại của rào cản thƣơng mại thì với sự tự do chuyển dịch thông tin, tiến bộ khoa học kỹ thuật ở những ngành nghề thuộc khu vực ngoại thƣơng từ quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển. Khi đó, với giả định tồn tại sự cạnh tranh hoàn hảo nên ngƣời lao động sẽ đƣợc trả cho phần sản phẩm cận biên tạo ra hay nói cách khác khi năng suất lao động tăng thì tiền lƣơng của ngƣời lao động sẽ gia tăng. Do đó, sẽ dẫn đến hiện tƣợng tiền lƣơng của ngƣời lao động khu vực ngoại thƣơng sẽ tăng cao hơn ngƣời lao động khu vực phi ngoại thƣơng. Một lần nữa, với giả định khả năng dịch chuyển lao động là hoàn hảo trong cùng một nền kinh tế (trong một nƣớc) nên lao động khu vực phi ngoại thƣơng sẽ dịch chuyển sang khu vực ngoại thƣơng.
Với sự thiếu hụt trong nguồn cung lao động khu vực phi ngoại thƣơng sẽ dẫn đến yêu cầu tăng mức lƣơng chung của khu vực phi ngoại thƣơng. Tuy nhiên, khi mức lƣơng tăng mà năng suất lao động không tăng sẽ dẫn đến mức tăng lạm phát của khu vực phi ngoại thƣơng.