Chương 1: Tổng quan về tác động của tai sản vô hình tới giá trị doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và phân tích Chương 4: Giải pháp tăng cường tác động của tài sản vô hình đến giá trị doanh nghiệp 3 CHUONG 1: TONG QUAN VE TÁC ĐỘNG CUA TÀI SAN VÔ HÌNH TỚI GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 1. Tài san vô hình 111. Khái niệm tài sản vô hình Căn cứ theo Chuan mực kế toán quốc tế IAS số 38, TSVH được hiểu là một dạng tài sản phi tiền tệ có thé nhận dạng mà không có tính chất vật lý. Dạng tài sản này được kiểm soát bởi một thực thể (DN) như là một kết quả trong quá khứ (ví dụ: mua hoặc tự tạo), từ đó có được các lợi ích kinh tế trong tương lai.
Như vậy, ba thuộc tính quan trọng của một TSVH được xác định là: v Có khả năng nhận dạng Y Kiểm soát được (quyền kiếm được lợi ích từ tài sản) Y Có lợi ích kinh tế trong tương lai (ví dụ như doanh thu, hoặc chi phí trong tương lai giảm) Tại Việt Nam thi TSVH cũng được hiểu như theo IAS 38. Cụ thé, theo hệ thong chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực số 4 về tài sản cố định vô hình, thì TSVH được định nghĩa là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá tri va do doanh nghiệp nam giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCD vô hình. Tài nguyên vô hình thường được các DN đầu tư như: bang sáng chế, hạn ngạch xuất khẩu, quyền sử dụng đất, hạn ngạch nhập khẩu, bằng sáng chế, phan mềm máy tính, giấy phép nhượng quyên, giấy phép thủy sản được khai thác, quan hệ kinh doanh với nhà cung ứng hoặc khách hàng, quyền tiếp thi và thị phan, lòng trung thành của khách hàng. Các yếu tố cần được xét khi xác định các tài nguyên vô hình để định nghĩa về TSVH được thỏa mãn là: nguồn lực có khả năng kiểm soát, nguồn lực có thể xác định được và ích lợi tương lai về mặt kinh tế là chắc chắn.
Nếu một loại vô hình nào đó không thỏa mãn ba điều kiện trên thì chi phí trong quá trình tao ra tài nguyên đó mà phát sinh thì phải được ghi nhận là cphí kinh doanh sản xuất trong kì hoặc là chi phí 4 trả trước. Còn đôi với việc mua bán sáp nhập DN thì cái tài nguyên vô hình mà DN có được đó thì phải được ghi nhận là lợi thế thương mại. Cụ thé, các thuộc tính của TSVH như sau: Tính có thể xác định được TSCD vô hình phải là tài sản có thé xác định được dé có thé phân biệt một cách rõ ràng tài sản đó với lợi thế thương mại. Lợi thế thương mại phát sinh từ việc sáp nhập DN có tính chất mua lại được thể hiện bằng một khoản thanh toán do bên đi mua tài sản thực hiện đề có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Một TSCD vô hình có thể xác định riêng biệt khi DN có thể dem TSCD vô hình đó cho thuê, bán, trao đôi hoặc thu được lợi ích kinh tế cụ thể từ tài sản đó trong tương lai. Những tài sản chỉ tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai khi kết hợp với các tài sản khác nhưng vẫn được coi là tài sản có thé xác định riêng biệt nếu DN xác định được chắc chắn lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó đem lại. Khả năng kiêm soát Kiểm soát doanh nghiệp của một tài sản nếu doanh nghiệp được hưởng các lợi ích kinh tế trong tương lai mà các tài sản này mang lại, và cũng có khả năng hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng khác cho lợi ích. Khả năng kiểm soát của doanh nghiệp vi lợi ích kinh tế trong tương lai từ tài sản vô hình, thường bắt nguồn từ quyền lợi hợp pháp.
Kiến thức thị trường và kiến thức chuyên môn có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Các doanh nghiệp có thể kiểm soát lợi ích khi bị ràng buộc bởi quyên lợi hợp pháp. Ví dụ như giấy phép đánh bắt cá. Các doanh nghiệp có một đội ngũ nhân viên lành nghề và thông qua đào tạo, các doanh nghiệp có thể xác định những kiến thức cải tiến của nhân viên sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai, nhưng bây giờ không thé đủ khả năng lợi ích kinh tế kiểm tra trên đó, do đó, không được công nhận là tài sản vô hình.
Lãnh đạo và chuyên môn kỹ thuật không được công nhận như một tài sản vô hình trừ khi nội dung được bảo đảm bằng quyền pháp ly dé sử dụng nó và dé có được những lợi ích kinh tế trong tương lai đồng thời đáp 5 ứng các quy định về định nghĩa của tài sản vô hình và điều kiện ghi nhận tài sản vô hình. Các doanh nghiệp có danh sách khách hàng hoặc thị phần, nhưng vì không có các quyền hợp pháp hoặc các biện pháp khác dé bảo vệ hoặc kiểm soát đối với lợi ích kinh tế từ các mối quan hệ với khách hàng và lòng trung thành của họ, vì vậy không được công nhận là tài sản vô hình. Lợi ích kinh tế trong tương lai Lợi ích kinh tế trong tương lai mà TSCD vô hình đem lại cho doanh nghiệp có thể bao gồm: Tăng doanh thu, tiết kiệm chỉ phí, hoặc lợi ích khác xuất phát từ việc sử dụng TSCD vô hình. Phân loại tài sản vô hình Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thé phân loại tài sản vô hình theo những tiêu chí khác nhau.
Theo Lê Thu Hương (2018), TSVH có thể xếp theo 7 nhóm, bao gồm: (1) Các mối quan hệ, (2) Tri thức, (3) Kỹ năng, (4) Hệ thống, quy trình, (5) Uy tín, thương hiệu, (6) Văn hoá, (7) Lãnh đạo và truyền thông. Thứ nhất, nguồn lực mối quan hệ. Về mặt học thuật, các mối quan hệ có ý nghĩa tương tự như vốn xã hội là một chủ đề mà đã được nghiên cứu ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, v. Vốn xã hội là một mối quan hệ giữa hai người.
Mọi người đang đặt ra hoặc tôn trọng một giao dịch hoặc khi làm điều gì đó với nhau, nó còn được gọi là các ràng buộc xã hội hay hành vi gương mẫu hoặc chuẩn mực xã hội và họ là những yếu tố quan trọng đối với sự bền vững của cuộc sống. Hiện nay, các nghiên cứu về vốn xã hội là rất phong phú và đa chiều. Trong thực tế, lợi dụng mối quan hệ hiện có, mở rộng các mối quan hệ tiềm năng, là một cách thức kinh doanh dựa trên những truyền thống vốn có của người Việt Nam. Tài nguyên này đóng một vai trò rât quan trọng đôi với không chỉ cá nhân mà các tô chức.
Thứ hai, nguồn tri thức. Theo nghĩa rộng, kiến thức trong tô chức là những kiến thức và kỹ năng của cá nhân hoặc tập thé dé giúp làm việc hiệu qua hơn. Như vậy, kiến thức có thê được ghi lại trong sách vở hay chỉ là trong tâm trí và kinh nghiệm của cá nhân. Cùng với nhân lực và vốn, tri thức là một nguồn sốc của sự tồn tại của tổ chức.
Các tổ chức có thê tìm thêm vốn và lao động, mua dây chuyền thiết bị hiện đại nhưng không phải dễ dàng tích lũy, mua và học hỏi phương pháp, kinh nghiệm làm việc và kinh doanh của các đơn vị khác. Nếu kiến thức là nguồn gốc, quản lý tri thức là khả năng tạo ra, sử dụng, truyền bá và phát triển tài nguyên đó để tạo ra lợi nhuận. Kiến thức và quản lý tri thức được coi là yếu tố chiến lược mang lại lợi thé cạnh tranh cho các tô chức trên thị trường. Thứ ba, tài nguyên kỹ năng.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong hồ sơ năng lực của người lao động là kỹ năng, trong đó thường được chia thành các kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những người thành công chỉ có 25% kiến thức chuyên môn của họ, trong khi, 75% còn lại được xác định bằng các kỹ năng mềm được trang bị. Trong một tô chức, các kỹ năng của các thành viên đóng một vai trò quan trọng, góp phần vào năng lực của tô chức, có hiệu quả đưa ra quyết định và tô chức thành công. Thứ tư, tài nguyên hệ thống, quy trình.
Cấu trúc hệ thống, quy trình tổ chức cũng là nguồn lực vô hình của tổ chức, có khả năng mang lai giá trị cho tổ chức. Một quy trình tốt, một bộ máy hiệu quả là giá tri quan trọng mà các tổ chức luôn hướng tới để xây dựng và quảng bá. Ngày nay, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tổ chức và quan lý lý thuyết khoa học đã cố gắng dé mô tả hệ thống và các quy trình trong các hình thức như có thé tưởng tượng. Tuy nhiên, có quá trình mà không thé được biểu diễn dưới dang ban đồ, hoặc không thé xác định, theo cách thông thường như đối với tài sản hữu hình.
Và quan trọng hơn, các nguồn lực này không được đánh giá là tài sản vật chất thông thường. Thứ năm, uy tín và thương hiệu của các nguồn lực. Đối với các doanh nghiệp, việc sở hữu một thương hiệu mạnh có giá tri tuyệt vời. Một thương hiệu duy trì cam kết của mình sẽ thu hút khách hàng trung thành hơn và chủ sở hữu sẽ có nhiều khả năng dé dự đoán lợi nhuận trên lợi nhuận của ho để họ có thê tốt hơn kế hoạch và quản ly bán hàng của họ.
phát triển kinh doanh. Nhờ khả năng dé đảm bảo thu nhập, thương hiệu có thể được xếp vào hàng ngũ các tài sản có giá trị cùng với các tài sản khác như nhà máy, thiết bị, tiền bạc, vốn đầu tư. Giá trị tài sản thương hiệu ngày nay không chỉ nỗi tiếng bởi các chủ sở hữu, mà còn bởi các nhà đầu tư. Thương hiệu có thể giúp tạo ra thu nhập cao, do đó ảnh hưởng trực tiếp giá hiệu suất và chứng khoán nói chung.
Đây cũng là một phần của tài nguyên vô hình mà được nghiên cứu tương đối tốt trong lĩnh vực kinh tế và pháp luật hiện nay. 7 Thứ sáu, văn hóa các nguồn lực. Lý thuyết và thực tế đã chứng minh rang văn hóa tổ chức có một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra một bước đột phá phát triển và tính bền vững cho tổ chức bằng cách thúc đây các nguồn lực nội bộ và tìm kiếm, khoan dung tài nguyên bên ngoài.