Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận & Khuyến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC Nghiên cứu của Robert M.Bushman and Abbie J. Smith (2003) nghiên cứu về chất lƣợng TTKT đã cho thấy một cách toàn diện hơn khi lƣợng hóa chất lƣợng TTKT theo 3 nhóm sau: - Lƣợng hoá chất lƣợng lập BCTC của công ty, gồm điểm mạnh, nguyên tắc đo lƣờng, đúng kỳ và niềm tin (nhƣ chất lƣợng kiểm toán) của việc công bố thông tin nội bộ của công ty; - Lƣợng hoá điểm mạnh trong cung cấp thông tin khác bao gồm việc phân tích và chiến lƣợc kinh doanh, giao dịch nội bộ; - Lƣợng hóa chất lƣợng về công bố thông tin rộng rãi.
Ferdy van Beest (2009), đánh giá rằng nghiên cứu chất lƣợng TTKT dựa vào các khoản mục cụ thể trên BCTC thƣờng niên bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính, song nó không lƣợng hóa toàn diện chất lƣợng BCTC, phƣơng pháp đƣợc coi là lƣợng hóa toàn diện chất lƣợng thông tin KTTC thông qua các BCTC là phƣơng pháp lƣợng hóa các tiêu chuẩn của thông tin KTTC đƣợc trình bày trên BCTC. Nghiên cứu này dựa vào các đặc tính chất lƣợng TTKT theo yêu cầu của FASB và IASB và các ƣu nhƣợc điểm của nghiên cứu trƣớc để xây dựng mô hình đánh giá chất lƣợng BCTC gồm 21 biến quan sát và 5 tiêu chuẩn đó là: Tính thích hợp, trung thực, dễ hiểu, có thể so sánh đƣợc, kịp thời. Mô hình này đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc áp dụng để kiểm tra đánh giá chất lƣợng BCTC. Theo nghiên cứu của Maines.A (2003), nghiên cứu đi sâu vào phân tích đặc tính “Đáng tin cậy” của thông tin trên BCTC, phƣơng pháp mà nhóm tác giả sử dụng để đánh giá về đặc tính đáng tin cậy này là bao gồm: so sánh các số liệu kế toán với chuẩn mực kế toán, xem xét vấn đề công bố lại các thông tin kế toán, so sánh các ƣớc tính kế toán và nhận biết dòng tiền tƣơng lai, nhận biết sự đáng tin cậy của những thông tin kế toán thông qua việc sử dụng các thông tin này.
Bài nghiên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 cứu này nhằm giúp cho các nhà làm chính sách xây dựng chuẩn mực, ngƣời sử dụng thông tin có thể xác định những yếu tố góp phần tăng độ đáng tin cậy của thông tin BCTC. Davood Khodadady (2012), nghiên cứu tại 49 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nƣớc và ngân hàng tƣ nhân ở Ấn Độ về đặc tính “Sự thích hợp” thông tin BCTC, tác giả sử dụng phƣơng pháp thang đo Likert 5 điểm để đo lƣờng danh mục gồm 14 yếu tố có ảnh hƣởng đến sự thích hợp của thông tin BCTC, trong đó 10 yếu tố liên quan đến giá trị dự báo và 4 yếu tố liên quan đến sự xác nhận. Kết quả của nghiên cứu cho thấy là thông tin BCTC của các ngân hàng tƣ nhân thích hợp hơn thông tin BCTC của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nƣớc. Nelson và cộng sự (2005), đã xác định các đặc điểm của hệ thống và chất lƣợng thông tin, bốn đặc tính của chất lƣợng thông tin là: tính chính xác, đầy đủ, thích hợp và có thể hiểu đƣợc.
Bằng một nghiên cứu thực nghiệm nhóm tác giả tiến hành khảo sát 465 ngƣời sử dụng kho dữ liệu. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tính chính xác là đặc trƣng chất lƣợng thông tin quan trọng nhất, kế đến là tính đầy đủ. Chất lƣợng thông tin BCTC còn đƣợc nhiều nhà nghiên cứu nhƣ Barth (2008), Cohen (2004), Schipper (2003) lƣợng hóa gián tiếp thông qua các thành phần có ảnh hƣởng tới chất lƣợng BCTC nhƣ hành vi quản trị lợi nhuận, BCTC đƣợc công bố lại và thời hạn công bố BCTC. Điều chỉnh lợi nhuận là một kế hoạch của nhà quản lý công ty nhằm tác động đến lợi nhuận nhằm công bố số lợi nhuận đáp ứng đƣợc mục tiêu đã xác định trƣớc đó.
Điều chỉnh lợi nhuận có thể đƣợc thực hiện theo một trong hai cách: tăng lợi nhuận hoặc giảm lợi nhuận (Miettinen. Điều chỉnh lợi nhuận đƣợc thực hiện có thể liên quan đến các khoản khuyến khích vật chất cho nhà quản lý công ty hoặc cũng có thể nhằm đảm bảo các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Khi nói đến điều chỉnh lợi nhuận thì không chỉ nói đến việc tác động bằng các con số thông qua các phƣơng pháp kế toán mà còn thông qua các giao dịch trong hoạt động kinh tế. Điển hình cho quan điểm chất lƣợng BCTC liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận là: Ali Shah S.Z et al (2009), Ebraheem TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Saleem Salem Alzoubi (2012), Leila Hussein Amer, Naser Abdelkarim (2012), Gulzar M.
Huang Zhizhong và Zhang Juan (2011), thông qua phƣơng pháp lựa chọn các công ty công bố lại BCTC cho thấy công bố lại BCTC là trƣờng hợp công bố BCTC nhằm cung cấp sự khẳng định về những sai sót trọng yếu mà doanh nghiệp đã công bố trong BCTC trƣớc đây. Điều này có nghĩa là BCTC công bố lại sẽ cho thấy dấu hiệu rõ ràng là BCTC đã công bố trƣớc đây là không trung thực, thể hiện chất lƣợng BCTC thấp. Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin trên BCTC. Các yếu tố bên ngoài N.Klai (2011), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Tunis trong giai đoạn 1997-2007, cơ chế quản trị công ty ảnh hƣởng tới chất lƣợng thông tin KTTC của các CTNY Tunisi.
Kết quả cho thấy, ảnh hƣởng của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, yếu tố sở hữu gia đình và tổ chức đầu tƣ làm giảm chất lƣợng BCTC, trong khi đó sự kiểm soát từ phía nhà nƣớc và các tổ chức tài chính có tác độngthuận chiều tới chất lƣợng thông tin KTTC công bố của các CTNY. Stoderstrom và cộng sự (2007), chất lƣợng thông tin kế toán trên BCTC khi áp dụng IFRS ảnh hƣởng bởi: chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị và việc trình bày BCTC. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống pháp luật và chính trị ảnh hƣởng quan trọng nhất đến chất lƣợng thông tin BCTC, nó có thể ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng thông tin kế toán hoặc ảnh hƣởng gián tiếp thông qua chuẩn mực kế toán và việc trình bày BCTC.Naser (2003), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Saudi cho thấy các BCTC tuân thủ chế độ và chuẩn mực kế toán, đảm bảo đầy đủ thông tin tài chính và phi tài chính đƣợc đánh giá có chất lƣợng tốt. Ferdy van Beest (2009), trong nghiên cứu của mình bên cạnh việc lƣợng hóa chất lƣợng thông tin kế toán, nghiên cứu còn kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin kế toán.
Kết quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nghiên cứu cho thấy các nhân tố bên ngoài có ảnh hƣởng trực tiếp đó là: chuẩn mực kế toán, môi trƣờng pháp lý và đặc thù của ngành công nghiệp. Lesley Stainbank (2008), nghiên cứu sự phát triển và tác động của IFRS đến BCTC của các DNNVV ở Nam Phi, kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp sẽ đƣợc hỗ trợ vốn tốt nhất khi lập BCTC tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực của IFRS, việc bãi bỏ hình thức thực thể doanh nghiệp ở Nam Phi là việc nên hƣớng tới. BCTC sẽ đƣợc lập theo nhu cầu cung cấp thông tin của từng doanh nghiệp. Valeria Maria Albert and Mihaela Serban (2012), nghiên cứu tại các DNNVV ở Roma, qua phân tích quá trình hoạt động nhƣ số lƣợng doanh nghiệp, những khó khăn và rủi ro trong quá trình hoạt động cũng nhƣ sự đóng góp vào GDP của các DNNVV trong giai đoạn 2000 – 2007.
Theo báo cáo thƣờng niên của các DNNVV năm 2008, qua khảo sát các chủ sở hữu DNNVV cho thấy các vấn đề họ đang mắc phải nhƣ: thiếu nguồn lực, hạn chế tiếp cận tín dụng, thiếu khách hàng, khả năng cạnh tranh…xuất phát từ việc thông tin thiếu tin cậy trên BCTC, nghiên cứu cho thấy BCTC đƣợc lập bởi các DNNVV chủ yếu là cung cấp cho cơ quan thuế chƣa thực sự quan tâm đến chất lƣợng cung cấp cho ngƣời sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của kiểm toán độc lập về độ tin cậy của BCTC do các DNNVV cung cấp, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vốn của DNNVV cũng nhƣ quyết định cho vay của các ngân hàng hay tổ chức tín dụng. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu Maines (2006) còn cho rằng một báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn bộ là điều kiện cần thiết để nhận biết thông tin KTTC đáng tin cậy hoặc đƣợc trình bày trung thực. Các yếu tố bên trong Gul,F.
(2004), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Hồng Kông, cấu trúc HĐQT ảnh hƣởng đến việc công bố thông tin của DN. Kết quả cho thấy tính kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc có ảnh hƣởng đến công bố tự nguyện thông tin trên BCTC. Tƣơng đồng với kết quả nghiên cứu của Nadia Smaili và cộng sự (2009) cho thấy rằng việc kiêm nhiệm hai chức danh sẽ dẫn đến gian lận trên BCTC. Bên cạnh theo nghiên cứu của Arman Aziz Karagul TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.D và cộng sự (2011), nghiên cứu tại 70 công ty phi tài chính trên SGDCK Istanbul ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhóm tác giả tiến hành kiểm định các nhân tố đƣợc cho là có ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin nhƣ: tính kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và giám đốc, tỷ lệ nắm giữ cổ phần bởi nhà đầu tƣ, tỷ lệ nắm giữ cổ phần bởi thành viên trong gia đình, quy mô của HĐQT.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tính kiêm nhiệm hai chức danh, quy mô của HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập của HĐQT có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp. Dechow (1996) và các nhà nghiên cứu khác cho rằng có mối quan hệ giữa chất lƣợng TTKT và quản trị công ty, KSNB, quản trị lợi nhuận, vấn đề gian lận, đồng thời khẳng định rằng quản trị công ty và KSNB công ty yếu kém sẽ làm giảm chất lƣợng thông tin KTTC của công ty. Hơn nữa, thông tin quản trị công ty làm tăng giá trị thông tin với những nhà đầu tƣ, điều này phù hợp với các CTNY. Thông tin quản trị công ty giúp tăng chất lƣợng thông tin KTTC.