chương 1 Hiện nay các NHTM Việt Nam đang thực hiện “chuyển đổi mạnh mẽ mô hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại theo hướng từ “độc canh tín dụng” sang mô hình đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng phi tín dụng” nhằm đa dạng hóa thu nhập. Khi thực hiện đa dạng hóa thu nhập thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Qua lược khảo một số nghiên cứu trước thì ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này và kết quả nghiên cứu cũng khác nhau. Do đó, đề tài nghiên cứu “TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI NHTM VIỆT NAM” là cần thiết để bổ sung cơ sở lý luận cũng như bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro tại các NHTM Việt Nam cũng như về các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập tại NHTM Việt Nam, để từ đó gợi ý các giải pháp thực hiện đa dạng hóa thu nhập góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Luận án kế thừa nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) và một số nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh tại NHTM Việt Nam. Luận án cũng kế thừa nghiên cứu của Hamdi, Hakimi và Zaghdoudi (2017) và một số nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình về các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập tại NHTM Việt Nam. Luận án thu thập dữ liệu của 28 NHTM Việt Nam trong thời gian từ 2008 đến 2018 và sử dụng ước lượng SGMM (SystemGMM) hai bước của Arellano & Bover (1995) và Blundell & Bond (1998) để chạy mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của luận án có đóng góp về mặt lý luận, đó là giúp đưa ra kết luận về lợi ích của đa dạng hóa thu nhập là làm tăng hiệu quả kinh doanh và tăng hiệu quả kinh doanh điều chỉnh theo rủi ro của các NHTM Việt Nam, cũng như xác định các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập tại các NHTM Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện độ mở tài chính ở Việt Nam ngày càng mở rộng.
Ngoài ra, luận án cũng có đóng góp về mặt thực tiễn, đó là gợi ý những chính sách để NHTM Việt Nam thực hiện đa dạng hóa thu nhập phù hợp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh ngân hàng và cung cấp những thông tin hữu ích cho những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng tiếp tục nghiên cứu sâu và rộng hơn những vấn đề liên quan. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng 2. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Theo Sanya & Wolfe (2011), đa dạng hóa là một chiến lược đầu tư được thiết kế nhằm giảm bớt rủi ro bằng cách kết hợp một loạt các khoản đầu tư khác nhau.
Việc kết hợp này tạo ra một danh mục đầu tư theo nhiều hướng và không có khả năng tất cả các khoản đầu tư di chuyển theo cùng một hướng. Theo Ansoff (1957), thuật ngữ đa dạng hóa thường được gắn liền với sự thay đổi những đặc điểm dòng sản phẩm của công ty hoặc thị trường, trái ngược với sự thâm nhập thị trường, phát triển thị trường hay phát triển sản phẩm, đa dạng hóa đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm. Đối với doanh nghiệp nói chung, đa dạng hóa là phương tiện mà một công ty mở rộng kinh doanh cốt lõi của mình vào thị trường sản phẩm khác. Các doanh nghiệp đa dạng hóa khi mong muốn kinh doanh đồng thời từ hai lĩnh vực khác nhau trở lên.
Trong ngành ngân hàng, đa dạng hóa xảy ra khi các ngân hàng mở rộng ngành kinh doanh cốt lõi của mình là thu nhập từ lãi, thu nhập truyền thống vào thị trường sản phẩm dịch vụ khác. Theo phân loại của Mercieca, Schaeck & Wolfe (2007), đa dạng hóa trong lĩnh vực ngân hàng có ba khía cạnh: (i) đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ tài chính, (ii) đa dạng hóa địa lý và (iii) kết hợp đa dạng hóa địa lý và kinh doanh. Với nhiều cách thức đa dạng hóa, mỗi ngân hàng đều có thể lựa chọn trong chiến lược kinh doanh của mình. Mục tiêu cuối cùng cho các quyết định lựa chọn ấy vẫn là làm sao gia tăng doanh thu, giảm thiểu tối đa chi phí, ngày càng đạt nhiều lợi nhuận, lôi kéo càng nhiều khách hàng và đảm bảo cho ngân hàng tồn tại, phát triển ổn định, bền vững.
Một trong các chỉ tiêu để phản ánh thành quả đó là thu nhập ngân hàng tăng lên. Do đó, đa dạng hóa thu nhập được xem là chỉ tiêu tốt nhất phản ánh kết quả của các chiến lược đa dạng hóa nhiều hơn là xem đó như một hình thức đa dạng hóa trong quá trình hoạt động của ngân hàng (Campa và Kedia 2002, Baele và cộng sự 2007, Chiorazzo và cộng sự 2008, Lepetit và cộng sự 2008). 12 Theo Rose và Hudgins (2008), đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng được thể hiện qua sự thay đổi tỷ lệ của thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng. Nếu như nguồn thu nhập của ngân hàng có được chỉ duy nhất từ thu nhập lãi ròng thì được gọi là tập trung, nhưng nếu nguồn thu này có được phân chia giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi thì được gọi là đa dạng hóa.
Hoạt động đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại và các hoạt động tạo phí và hoa hồng. Với việc đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng không còn tập trung vào mảng kinh doanh truyền thống (hoạt động tín dụng) mà dần chuyển dịch sang kinh doanh phi truyền thống (hoạt động dịch vụ, hoa hồng, kinh doanh khác) tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng. Theo Elsas và cộng sự (2010), các NHTM thường đa dạng hóa thu nhập bằng cách dịch chuyển từ các hoạt động kinh doanh truyền thống nhằm thu lãi như tiền gửi và tiền vay sang các hoạt động thu phí; sau đó dựa trên cơ sở thu nhập từ phí ổn định, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phi truyền thống khác như hoạt động đầu tư nhằm gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động. Như vậy, đa dạng hóa thu nhập ngân hàng chính là việc các ngân hàng không còn tập trung vào các hoạt động kinh doanh truyền thống mà phân chia giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập Theo Asif và Akhter (2019), đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng chủ yếu được đo lường thông qua tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số Herfindahl Hirschman. Qua lược khảo các nghiên cứu trước về đa dạng hóa thu nhập, Asif và Akhter (2019) đã thống kê có 44% bài nghiên cứu sử dụng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và 29% bài nghiên cứu sử dụng chỉ số Herfindahl Hirschman để đo lường đa dạng hóa thu nhập. Ngoài ra các thành phần của thu nhập ngoài lãi cùng với tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cũng được sử dụng trong các nghiên cứu này (Asif và Akhter, 2019). Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Thu nhập của ngân hàng chia thành 2 loại thu nhập chính là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi (Gurbuz và cộng sự 2013).
Trong khi đó, Elsa và cộng sự (2010) chia thu nhập của ngân hàng bao gồm thu nhập từ lãi, thu nhập từ phí dịch vụ (commission revenue), thu nhập từ kinh doanh, đầu tư (trading revenue) và thu nhập khác. Do đó, nếu chia thu nhập thành 2 loại là thu 13 nhập lãi và thu nhập ngoài lãi thì thu nhập ngoài lãi sẽ gồm thu nhập từ phí dịch vụ, thu nhập từ kinh doanh, đầu tư và thu nhập khác. Theo nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC, thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác. Trong đó, thu nhập lãi chính là các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lãi từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng.
Thu nhập ngoài lãi bao gồm thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác. Trên báo cáo tài chính của các ngân hàng, các hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối được trình bày trên cơ sở thuần nên các nghiên cứu tính thu nhập ngân hàng trên cơ sở thuần. Cụ thể, tổng thu nhập thuần bằng tổng tổng thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi thuần, trong đó, thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, thu nhập ngoài lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi và chi phí ngoài lãi (Lepetit và cộng sự 2008, Gurbuz và cộng sự 2013). Như vậy: Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi – Chi phí lãi Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi = Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư + Thu nhập thuần khác Tổng thu nhập thuần = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi Trên báo cáo tài chính của NHTM Việt Nam, tổng thu nhập thuần của ngân hàng bao gồm thu nhập lãi thuần, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ, thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, thu nhập thuần từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần.