Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách và hướng phát triển mới cho bài nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ CỦA CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY Phần này cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về chiều hướng của các mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô trên thông qua một số các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học trước đây… 2.1 Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư và giành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản lý doanh nghiệp đó”. Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi và ban hành ngày 12/11/1996 quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bết cứ tài sản nào để tiến hàng hoạt động đầu tư theo luật này”. Lý do căn bản giải thích cho sự phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế, hình thành các công ty đa quốc gia, sự lưu chuyển của các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xuất phát từ các học thuyết sau: 2.1 Lý thuyết lợi thế so sánh Được đưa ra bởi Adam Smith – “Sự giàu có của các quốc gia” năm 1776 sau đó được phát triển bởi David Ricardo, theo đó, mỗi quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối và dùng những sản phẩm này để trao đổi lấy những thứ mà họ không có lợi thế.
Lý thuyết này cung cấp nền tảng cho việc giải thích hoạt động kinh doanh quốc tế trong xu hướng tự do hóa thương mại, sự di chuyển của các dòng vốn đầu tư quốc tế hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Lý thuyết tỷ suất sinh lợi cận biên Theo Richarch S.Eckaus (1960) “Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu nhờ vào việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện sự di chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế”. Tác giả cho rằng các quốc gia đầu tư (thừa vốn) thường có hiệu quả sử vốn thấp điều này sẽ dẫn đến các nhà đầu tư tại các quốc gia này sẽ tiến hành tìm kiếm cơ hội đầu tư mới đem lại hiệu quả sử dụng vốn cao hơn tại các quốc gia đang thiếu vốn – có hiệu quả sử dụng vốn tương đối cao.3 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm Lý thuyết Chu kỳ sản phẩm được đưa ra bởi Vernon (1966) cho rằng các công ty được thành lập ở thị trường nội địa là do một lợi thế nào đó mà họ có được so với đối thủ cạnh tranh hiện hữu. Nhu cầu của nước ngoài đối với sản phẩm công ty ban đầu sẽ được đáp ứng thông qua hoạt động xuất khẩu.
Theo thời gian, công ty nhận thấy cách duy nhất để duy trì lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài là sản xuất sản phẩm ngay ở các thị trường nước ngoài để giảm chi phí vận chuyển, tận dụng được tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động tương đối rẻ ở các quốc gia nhận đầu tư… Lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm – IPLC – Raymond Vernon, lý thuyết này được trước tiên bởi S.Hirsch và sau đó được R.Vernon phát triển một cách có hệ thống từ năm 1966. Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác; nhưng khi sản phẩm được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất lại được tiến hành ở các nước khác và kết quả là sản phẩm có thể được xuất khẩu trở lại nước phát minh và các quốc gia khác trên thế giới. Có nghĩa là khi sản phẩm mới xuất hiện thì việc sản xuất sản phẩm là không đáng kể và được thực hiện tại nước phát minh ra sản phẩm, tuy nhiên ở giai đoạn sản phẩm chín muồi thì việc cạnh tranh trong nước càng khốc liệt hơn dẫn đến các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được xây dựng để đáp ứng kịp thời nhu cầu bên ngoài và đây cũng là lúc mà các dòng vốn FDI bắt đầu di chuyển giữa các nước. Khi sản phẩm bước vào thời kì được chuẩn hóa, thị trường ổn định thì để tăng tính cạnh tranh các sản phẩm tiếp tục được chuyển sang nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI; đồng thời ta nhận thấy các nước ban đầu tiếp nhận FDI để sản xuất sản phẩm với những lợi thế của mình nay lại trở thành những nước mạnh về xuất khẩu và có thể xuất khẩu ngược sản phẩm này lại cho các nước phát minh ban đầu và ra thị trường thế giới.
Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm; cho thấy vai trò của các phát minh sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế hóa sản xuất theo các giai đoạn tiếp nối nhau. Theo lý thuyết, có thể nhận thấy rằng FDI vừa thay thế vừa bổ sung cho thương mại quốc tế, FDI làm tăng nhập khẩu máy móc, nhiên liệu từ nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư và cũng đồng thời tăng xuất khẩu từ nước nhận đầu tư sang nước chủ đầu tư và ra thị trường quốc tế. Theo Akamatsu (1962) thì cho rằng: Chu kỳ sản phẩm đối với hầu hết các công ty khi tham gia kinh doanh quốc tế sẽ gồm 3 giai đoạn: sản phẩm mới, sản phẩm chín muồi và sản phẩm chuẩn hóa. Sản phẩm mới ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó sẽ được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Tại thị trường nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới sẽ làm cho nhu cầu tại các quốc gia này tăng lên, do đó các nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ dẫn đến sự hình thành các dòng vốn giữa các quốc gia hiện nay.4 Lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI: Lý thuyết chiết trung (Dunning – 1993) cho rằng các yếu tố quyết định các nhân tố quyết định đến FDI thông qua lý thuyết của mô hình OLI, cụ thể: Lợi thế về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quyền sở hữu (Ownership – O), lợi thế về vị trí (Location – L) và lợi thế về nội hóa (Internalization – I). Các công ty đa quốc gia đầu tiên cần có lợi thế về quyền sở hữu – O (bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, kỹ năng quản lý, tiến bộ khoa học) cho phép họ cạnh tranh hiệu quả trong thị trường nội địa (nước nhận đầu tư) Lợi thế vị trí – L của là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư của một công ty khi quyết định rót vốn vào một thị trường.
Quy mô thị trường, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực lao động, sự ổn định của nền kinh tế, chi phí sản xuất vận chuyển thấp, ưu đãi thuế…. Sẽ là những nhân tố tạo nên hấp dẫn khác nhau trong việc thu hút dòng vốn đầu. Lợi thế về nội hóa liên quan đến chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng, tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các doanh nghiệp, tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế. Theo lý thuyết thì điều kiện kinh tế của các quốc gia ngày nay là không giống nhau, và các quốc gia ngày nay đang cố gắng để hoàn thiện các điều kiện cần để thu hút các dòng vốn đầu tư từ các nước phát triển.
Do đó việc tìm ra đâu là nhân tố có ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn đầu tư này là cực kỳ quan trọng và có ý nghĩa về mặt chính sách.5 Lý thuyết phân tán rủi ro Theo D.Salvatore (1993), cho rằng các nhà đầu tư không nên chỉ quan tâm đến những danh mục đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao vì một danh mục có tỷ suất sinh lợi cao sẽ đồng nghĩa với việc tồn tại nhiều rủi ro trong danh mục. Các nhà đầu tư không nên “bỏ trứng vào một rổ” vào một thị trường quen thuộc mà họ sẽ phân tán tài sản để mua cổ phiếu, chứng khoán nợ… ở các thị trường nước ngoài khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngoài các học thuyết kinh tế được nói trên thì bên cạnh đó cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để xem xét các yếu tố vĩ mô tác đống đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; tuy nhiên, kết quả của những nghiên cứu này lại đưa ra những kết luận trái ngược nhau.1 Tác động của tổng sản phẩm quốc gia (GDP) Chakrabarti (2001) ủng hộ cho quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế có tác động lên dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước tiếp nhận đầu tư, ông tranh luận rằng tăng trưởng kinh tế cao tại các nước sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu thị trường và tiến hành các hoạt động đầu tư tại những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định hơn các quốc gia còn lại. Tatoglu và Erdal (2002) đã sử dụng hồi quy OLS để xem xét các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI chảy vào Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1980 – 1998.
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy: GDP, Độ mở thương mại, Cơ sở hạ tầng có mối tương quan dương cùng chiều với dòng vốn FDI chảy vào quốc gia này. Đồng thời, tìm thấy bằng chứng cho thấy Tỷ giá hối đoái đa phương danh nghĩa lại có những tác động tiêu cực đối với việc thu hút dòng vốn FDI trong giai đoạn nghiên cứu.