phần mở đầu thì cấu trúc của luận văn bao gồm phần tóm tắt đề tài nghiên cứu và 5 phần chính như sau: Phần 1 Giới thiệu Phần 2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây Phần 3 Phương pháp nghiên cứu Phần 4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu Phần 5 kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- ĐO LƯỜNG HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TÓM TẮT Truyền dẫn tỷ giá hối đoái là tác động của những thay đổi trong tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá trong nước gọi chung là sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Với mục tiêu đo lường truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát ở Việt Nam tác giả đã sử dụng mô hình Vector tự hồi quy để đo lường truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá, đặc biệt là truyền dẫn đến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2012. Tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu tương tự như của Ito và Sato (2006) đối với mô hình 7 biến, trong đó dữ liệu được thu thập theo tháng gồm 144 quan sát từ 2001 đến 2012.
Kết quả phân tích hàm phản ứng xung cho thấy truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát là lớn hơn so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và so với một số quốc gia Châu Á khác, độ lớn của truyền dẫn này đang có xu hướng tăng nhanh và thời gian tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái đến lạm phát là không nhất thời mà thể hiện xu hướng kéo dài. Phân rã phương sai cho thấy lạm phát bị ảnh hưởng bởi cú sốc từ trễ của chính nó ở kỳ đầu tiên 80,12% sau đó giảm dần và duy trì ổn định từ kỳ 11 khoảng 32%, tiếp theo là cú sốc M2 mặc dù kỳ đầu tiên rất thấp khoảng 1,4% nhưng tăng lên nhanh chóng khoảng 22% từ kỳ thứ 11, tiếp theo là ảnh hưởng cú sốc từ các biến OIL, IMP, NEER, GAP và ảnh hưởng thấp nhất đến lạm phát là PVN hơn 6%. Từ khóa: Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT), Vector tự hồi quy (VAR), hàm phản ứng xung (IRF), phân rã phương sai (VD). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
GIỚI THIỆU Trong nhiều năm qua lạm phát của Việt Nam liên tục duy trì ở mức cao có thể kể đến là mức đỉnh điểm năm 2008 cho đến năm 2012 lần lượt là 19,89%, 6,52%, 11,75%, 18,13% và 6,81%. Nhắc đến lạm phát đó không chỉ là nỗi ám ảnh không chỉ cho các nhà quản lý kinh tế, các doanh nghiệp mà còn là nỗi lo chung của hàng triệu người dân Việt Nam. Lạm phát thường gắn liền với thuật ngữ đồng tiền mất giá và thật trùng hợp khi lạm phát Việt Nam tăng cao thì cũng là lúc mà đồng tiền Việt Nam bị phá giá mạnh. Tỷ giá hối đoái là cầu nối quan trọng để một nền kinh tế hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Có một chính sách điều hành tỷ giá đúng đắn sẽ góp phần quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó đối với bất kỳ quốc gia nào tỷ giá hối đoái cũng là một trong những biến số quan trọng của nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế, một trong những ảnh hưởng quan trọng của nó là tác động đến lạm phát. Do đó nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát được xem là một trọng tâm của nghiên cứu, theo đó bài luận văn tập trung trả lời cho câu hỏi liệu có mối quan hệ như thế nào giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Việt Nam? Sự tăng hay giảm tỷ giá hối đoái ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát? Yếu tố nào là nguyên nhân chính khiến lạm phát tăng cao? Để hiểu được truyền dẫn ERPT này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành tỷ giá như thế nào để kiềm chế lạm phát.
Đây là những câu hỏi mà nhiều nhà kinh tế quan tâm và để trả lời cho câu hỏi này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đo lường hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp của mình. Thông qua việc sử dụng mô hình VAR tác giả thực hiện đo lường hiệu ứng ERPT đến các chỉ số giá đặc biệt là truyền dẫn đến lạm phát bằng hàm phản ứng xung (IRF) và xác định tầm quan trọng của các biến trong mô hình nhờ vào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- phân rã phương sai (VD). Kết quả truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát là tương đối cao nếu so sánh với những nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và so với một số quốc gia Châu Á khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Các nghiên cứu đối với các nước phát triển Jonathan McCarthy (2000) với nghiên cứu tựa đề “Truyền dẫn tỷ giá và giá nhập khẩu đến lạm phát trong nước tại một số nền kinh tế phát triển”, trong đó tác giả sử dụng mô hình VAR đệ qui để nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá đối với giá nhập khẩu (IMP) đến giá sản xuất (PPI) và giá tiêu dùng (CPI) tại 9 nước có nền kinh tế phát triền bao gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ giai đoạn 1976 – 1998. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng giá đồng nội tệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài ít nhất là một năm với hầu hết các nước khảo sát, phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng đối với chỉ số giá nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các nước khảo sát. Nogueira, Jr và Miguel A.
León-Ledesma (2009) với nghiên cứu tựa đề “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái có thay đổi khi bất ổn môi trường kinh tế vĩ mô không?” trong đó tác giả sử dụng mô hình Logistic smooth transition regressions (LSTR) để đo lường truyền dẫn của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tuyến tính hay phi tuyến đối với bất ổn môi trường kinh tế vĩ mô tại Mexico giai đoạn 1992M1 – 2005M12. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng là phi tuyến, có nghĩa là môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn thì truyền dẫn ERPT gia tăng và ngược lại. Hufner và Michael Schroder (2002) với nghiên cứu tựa đề “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng: một quan điểm người Châu Âu” trong đó tác giả sử dụng mô hình VECM cho 5 quốc gia Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha và Hà Lan giai đoạn 1981 - 2001 nhằm lượng hóa tác động cú sốc tỷ giá đến giá tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy Hà Lan biểu thị truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng nhanh nhất, nhưng tác động lâu nhất là Ý và Pháp được biểu thị ở bảng sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Phản ứng của giá tiêu dùng CPI các nước với cú sốc 1% tỷ giá Sau 6 tháng Sau 12 tháng Sau 18 tháng Sau 24 tháng Pháp 0.11 Tây Ban Nha 0.
Hufner và Michael Schroder (2002) 2. Nghiên cứu đối với các nước đang phát triển Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato (2006) đã sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu so sánh truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoàng 1997 – 1998 gồm Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippine và Malaysia. Dữ liệu nghiên cứu từ 1993M1 – 2005M08, kết quả nghiên cứu cho thấy truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu là cao nhất, sau đó đến chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng. Mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu là khá cao ở các nước bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng nhìn chung là thấp ở các nước được khảo sát ngoại trừ Indonesia. Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn & Marcelo Sánchez (2007) tác giả đã sử dụng mô hình VAR và phân rã Cholesky nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái tại 12 nước đang phát triển thuộc 3 nền kinh tế công nghiệp cũng như 3 khu vực kinh tế mới nổi trên thế giới, bao gồm Châu Á (Trung Quốc, Nam Hàn, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông), Trung và Đông Âu (Cộng hòa Séc, Hungary, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- Phần Lan), Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ Latin (Arhentina, Chilê và Mexico). Kết quả nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ cùng chiều rõ rệt giữa độ lớn của sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát. Trong khi mối tương quan cùng chiều giữa độ mở cửa một quốc gia và độ lớn của sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái chỉ được hỗ trợ ở mức yếu.
Ngoài ra bài nghiên cứu còn phủ định lập luận ERPT trong nền kinh tế đang phát triển thì luôn cao hơn so với nền kinh tế phát triển. Các nghiên cứu trong nước về truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Võ Văn Minh (2009) với nghiên cứu tựa đề “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái và liên kết với lạm phát của Việt Nam” tác giả đã sử dụng mô hình VAR giai đoạn 2001M1 – 2007M2 và đã tìm thấy mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu sau 6 tháng là 1,04; sau một năm là 0,21. Tuy nhiên mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến CPI trong 4 tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy trong một năm là 0,13 thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là tác giả chưa sử dụng chỉ số giá sản xuất (PPI) trong quá trình ước lượng và dữ liệu chỉ số giá nhập khẩu chưa có chính thức mà tự tính toán lại thông qua chỉ số giá xuất khẩu của các quốc gia có tỷ lệ giao thương lớn với Việt Nam. Nguyễn Đình Minh Anh, Trần Mai Anh, Võ Trí Thành (2010) đã sử dụng mô hình VAR để ước tính mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát ở Việt Nam từ tháng 01/2003 đến tháng 03/2009. Kết quả cho thấy mức truyền dẫn là 0,07 với độ trễ là 2 tháng kể từ cú sốc tỷ giá, tác động này được loại bỏ hoàn toàn trong tháng thứ 3. So với một số nước đang phát triển khác, mức truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam có mức độ vừa phải.
Nghiên cứu cũng tìm thấy rằng lạm phát ở Việt Nam trong những năm 2008 – 2009 chủ yếu là do việc mở rộng cung tiền.