CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH WINMARK VIỆT NAM. Một số khái niệm cơ bản về tỷ giá hối đoái và hoạt động sản xuất kinh doanh. Khái niệm về tỷ giá hối đoái. Theo giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện tài chính, NXB Tài chính, năm 2002, trang 238: “Thực chất tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa các đồng tiền và là mức giá mà tại đó các đồng tiền có thể chuyển đổi được cho nhau”.
Theo pháp lệnh ngoại hối của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 28/2005/PL- UBTVQH11 ngày 13 tháng 12 năm 2005, tại khoản 9, điều 4 quy đinh: Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam. Theo giáo trình Kinh tế học vĩ mô, NXB Giáo dục, năm 2007, trang 203: “Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác”. Theo giáo trình Tài chính quốc tế, NXB Thống kế, năm 2010, trang 92: “Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ này được biểu thị thông qua một số đơn vị tiền tệ khác”. Trong kinh tế học khi phân tích về tỷ giá hối đoái, người ta thường sử dụng các ký hiệu sau: e – Là tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng tiền nước ngoài.
E – Là tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ. Trong ví dụ này, giá của USD được biểu thị thông qua VND và 1 USD có giá 21. Khái niệm về chính sách tỷ giá hối đoái. Theo nghĩa rộng: Chính sách tỷ giá hối đoái là những hoạt động của Chính phủ thông qua một chế độ tỷ giá nhất định và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia (giáo trình tài chính quốc tế - NXB thống kê).
Theo nghĩa hẹp: Chính sách tỷ giá hối đoái là những hoạt động của chính phủ thông qua cơ chế điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một mức tỷ giá nhất định, để tỷ giá tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia (giáo trình tài chính quốc tế - NXB thống kê). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất: Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Hoạt động kinh doanh Dưới góc độ pháp lý kinh doanh được hiểu là: “Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lơi” ( khoản 2- Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005). Hoạt động kinh doanh trong một trường hợp được hiểu nhiều như hoạt động thương mại. Theo khoản 1 – Điều 3 Luật Thương mại giải thích: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Một số lý thuyết của vấn đề tỷ giá hối đoái và hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái. Nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái Cũng giống như giá cả của bất cứ hàng hóa nào, trong chế độ tỷ giá thả nổi, giá cả của đồng tiền tự do chuyển đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Như vậy, nếu biết được những nhân tố hình thành và tác động lên cung cầu một đồng tiền, thì đồng thời cũng biết được những nhân tố hình thành và ảnh hưởng lên tỷ giá.
Với các nhân tố khác không đổi, thì mọi nhân tố làm tăng cầu một đồng tiền trên thị trường ngoại hối, đều làm cho đồng tiền này lên giá; tương tự, mọi nhân tố làm tăng cung một đồng tiền, đều làm cho đồng tiền này giảm giá. Cán cân thương mại. Cán cân thương mại: Hạch toán các giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa của quốc gia. Nếu giá trị xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu thì cán cân thương mại thặng dư, ngược lại cán cân thương mại thâm hụt.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com E MSUSD MS’USD A E0 C E1 O Q0 Q1 Hình 1. Lượng USD trên thị trường ngoại hối khi giá xuất khẩu hàng hóa – dịch vụ tăng. Trong đó: E – Tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tê. Q- Lượng ngoại tệ trong nước.
Trong một nền kinh tế, khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hóa dịch vụ trong nước xuất khẩu ra bên ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm như hình 1. Cung về USD tăng từ MS USD->MS’USD điều này khiến cho E giảm từ E0->E1.
Như vậy có thể nói nếu một nước xuất khẩu được càng nhiều hàng hóa – dịch vụ thì đồng tiền nước đó càng có xu hướng lên giá hay tỷ giá hối đoái giảm, đồng nội tệ lên giá. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hóa dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường, hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. E C E1 A E0 MD’USD MDUSD O Q0 Q1 Hình 1.2: Lượng USD trên thị trường ngoại hối khi giá nhập khẩu hàng hóa giảm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như hình 1.2: Cầu về đồng USD MDUSD->MD’USD khiến cho E tăng theo từ E0-> E1 tức sẽ làm cho đồng nội tệ giảm tỷ giá hối đoái tăng (nội tệ giảm).
Như vậy ta thấy đối với giá hàng hóa xuất nhập khẩu: Nếu giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu tăng hoặc giảm giá thế giới của hàng hóa nhập khẩu giảm đều có tác dụng cải thiện cán cân thanh thương mại (tăng cung, giảm cầu ngoại tệ), khiến cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá. Ngược lại, nếu giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu giảm hoặc giá thế giới của hàng hóa nhập khẩu tăng đều có tác dụng xấu đến cán cân thương mại (giảm cung, tăng cầu ngoại tệ), khiến cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm. Sự chênh lệch tỷ lệ lạm phát tương đối. Thay đổi tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh hưởng đến các hoạt động thương mại quốc tế, từ đó ảnh hưởng đến cung – cầu ngoạt tệ, dẫn đến thay đổi tỷ giá hối đoái.
Nếu lạm phát của một nước lớn hơn lạm phát của nước ngoài sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm xuất khẩu tăng khiến giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu điều này làm kim ngạch xuất khẩu giảm-> nguồn cung ngoại tệ giảm làm cho đồng ngoại tệ tăng giá ( tỷ giá hối đoái tăng) hay đồng nội tệ giảm giá và ngược lại Ví dụ: Khi một quốc gia nội địa (ví dụ như Việt Nam) có tỷ lệ lạm phát tương đối cao hơn một quốc gia nước ngoài (ví dụ như Mỹ): Người dân Việt Nam sẽ có xu hướng thích sử dụng hàng hóa, dịch vụ của Mỹ hơn của Việt Nam (do giá rẻ hơn) => Nhập khẩu hàng Mỹ tăng khiến cho cầu về đồng ngoại tệ USD tăng ( MD’ -> MD). Còn người dân Mỹ sẽ có xu hướng ít sử dụng hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam (do giá đắt)=> Nhập khẩu hàng Việt Nam giảm điều này làm cho cung ngoại tệ USD giảm (MS’->MS). Cầu ngoại tệ tăng, cung ngoại tệ giảm dẫn đến tỷ giá hối đoái giữa USD so với VND tăng, đồng nội tệ mất giá hay nói cách khác nếu một nước có tỷ lệ lạm phát cao hơn các nước khác thì sức mua đồng tiền nước đó có xu hướng giảm. MSUSD MS’USD E1 MDUSD E0 MD’USD O Hình 1.
Lượng USD trên thị trường ngoại hối. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự vận động của luồng vốn. Cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doanh nghiệp…) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu…). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ.
Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn chảy vào một nước, làm cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài dòng âm.
Theo quy luật tối ưu hóa, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chính phủ. Hoạt động dự trữ và đầu cơ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao đổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi năm.
Ngoài ra ta biết: Cầu về một loại tài sản thuộc vào mức giá kỳ vọng mà tài sản đó có thể bán được trong tương lai. Nếu người ta dự đoán đồng tiền nào sẽ tăng giá trong thương lai thì cầu về đồng tiền đó sẽ tăng, làm giá của nó sẽ tăng. Các cơ chế tỷ giá hối đoái.