Chương 1 tác giả sẽ giới thiệu đề tài, xác định bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đồng thời trình bày phương pháp nghiên cứu một cách ngắn gọn. Chương 2 giới thiệu khung phân tích, các khái niệm lý thuyết liên quan và tổng quan kết quả của các nghiên cứu trước. Chương 3 tiến hành thiết kế nghiên cứu, bao gồm mô tả chi tiết mô hình nghiên cứu định lượng, dữ liệu sử dụng và các bước tiến hành nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu cùng các phân tích, thảo luận cho kết quả tìm được.
Cuối cùng, các kết luận của nghiên cứu và khuyến nghị chính sách sẽ được trình bày ở Chương 5. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá lên giá cả 2.1 Khái niệm Về góc độ lý thuyết, thuật ngữ sự dẫn truyền tỷ giá (Exchange rate pass-through, ERPT) đầu tiên được nghiên cứu và sử dụng bởi Kreinin (1977). Theo đó, dẫn truyền tỷ giá được định nghĩa là sự chuyển dịch biến động tỷ giá vào giá cả nhập khẩu, được xác định bởi phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu (đo lường theo đồng tiền nước nhập khẩu) khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu thay đổi một phần trăm. Sự dẫn truyền tỷ giá được gọi là hoàn toàn khi đồng nội tệ mất giá 1% sẽ dẫn đến giá nhập khẩu tăng tương ứng 1%.
Ngược lại, nếu giá nhập khẩu tăng nhỏ hơn 1% được gọi là sự dẫn truyền tỷ giá không hoàn toàn và không có sự dẫn truyền tỷ giá nếu giá nhập khẩu không tăng. Sự dẫn truyền không hoàn toàn từ tỷ giá sang giá nhập khẩu vi phạm Luật một giá3 ngoài những yếu tố chi phí vận chuyển, phân phối, thuế và rào cản thương mại, hàng hóa không đồng nhất còn do hành vi điều chỉnh lợi nhuận biên của nhà xuất khẩu trước biến động tỷ giá, hay còn gọi là hành vi định giá theo thị trường (Price-to-market - PTM, Krugman, 1987). Tới lượt nó, hành vi này lại chịu tác động của độ co giãn theo cầu, độ co giãn theo cung và cấu trúc chi phí của doanh nghiêp. Theo Goldberg và Knetter (1996), điều kiện để biến động tỷ giá dẫn truyền hoàn toàn sang giá nhập khẩu là (i) thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận biên là không đổi và bằng không, và (ii) chi phí biên hoặc giá bán là không đổi.2 Cơ chế dẫn truyền Không dừng lại ở định nghĩa ban đầu, biến động tỷ giá theo nhiều kênh truyền dẫn không chỉ tác động đến giá nhập khẩu mà còn đến giá sản xuất, giá xuất khẩu và giá cả tiêu dùng trong nước.
Tăng tỷ giá (làm đồng nội tệ yếu đi so với ngoại tệ) làm tăng giá 3 Luật một giá (Law of One price) là một khái niệm kinh tế: các hàng hóa giống nhau sẽ được bán với giá như nhau khi tính bằng một đồng tiền trên các thị trường khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- nhập khẩu khi với cùng một giá nhập khẩu bằng ngoại tệ, nhà nhập khẩu phải trả nhiều nội tệ hơn để mua ngoại tệ, dẫn tới giá bán tính bằng nội tệ ở thị trường trong nước cao hơn, gây áp lực tăng giá sản xuất, dẫn tới tăng giá hàng hóa cuối cùng.1 Cơ chế dẫn truyền tỷ giá sang giá cả Biến động tỷ giá (Nội tệ mất giá) Trực tiếp Gián tiếp Giá NVL đầu vào nhập khẩu Tăng cầu sản xuất nội địa và tăng xuất khẩu Chi phí sản xuất tăng Cầu lao động tăng (Tiền lương tăng) Giá sản phẩm cuối cùng tăng Nguồn: Laflèche, 1996 Cơ chế dẫn truyền trực tiếp được dựa trên quan sát rằng có một bộ phận lớn hàng hoá nhập khẩu trở thành hàng hoá trung gian để sản xuất thành phẩm cuối cùng (cả trong nước và xuất khẩu). Trước khi được tiêu thụ trong nước hoặc đưa đi xuất khẩu, hàng hoá cuối cùng phải đi qua chu trình sản xuất và phân phối. Những yếu tố mang tính nội địa như chi phí lao động và chi phí phân phối như kho bãi, vận chuyển và chi phí bán lẻ có tác dụng “pha loãng” các yếu tố nhập khẩu trong giá của hàng hóa cuối cùng.
Càng về cuối chu trình sản xuất và phân phối, mức độ phản ứng của giá cả hàng hóa đối với biến động của tỷ giá sẽ càng giảm dần. Vì vậy, do nằm ở các giai đoạn sản xuất và phân phối khác nhau, các chỉ số giá nhập khẩu (Import Price Index, IPI), sản xuất (Production Price Index, PPI), tiêu dùng (Consumer Price Index, CPI) và xuất khẩu (Export Price Index, XPI) có cấu thành các yếu tố nhập khẩu giảm dần, do đó tương ứng sẽ phản ứng giảm dần đối với biến động của tỷ giá. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Điều này có nghĩa là những biến động tỷ giá có thể thông qua giá các yếu tố sản xuất nhập khẩu ảnh hưởng đến giá sản xuất và giá bán của hàng hóa cuối cùng. Đây gọi là sự truyền dẫn của tỷ giá theo chuỗi giá cả.
Tỷ trọng các yếu tố đầu vào nhập khẩu càng lớn thì sự truyền dẫn của tỷ giá đến giá sản phẩm cuối cùng theo đó cũng càng lớn. Sự truyền dẫn này mang tính một chiều, những thay đổi hay cú sốc của giá nhập khẩu có thể ảnh hưởng đến giá cả ở phía sau trong chuỗi giá cả là giá sản xuất, giá tiêu dùng và giá xuất khẩu (với độ trễ phù hợp). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mức độ phản ứng của mỗi loại giá cả đối với nội tệ giảm giá sẽ tương ứng hoàn toàn chặt chẽ với hàm lượng các yếu tố nhập khẩu so với các yếu tố nội địa trong từng loại giá. Nghĩa là, sự dẫn truyền tỷ giá thường không hoàn toàn.
Điều này, như đã đề cập ở trên, còn phụ thuộc nhiều vào hành vi điều chỉnh giá bán hay là thay đổi lợi nhuận biên trước các biến động tỷ giá của doanh nghiệp. Người bán thường không thể chuyển hết các biến động tỷ giá bất lợi vào khách hàng. Nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu (người bán và người mua) thường chia sẻ với nhau tác động từ biến động tỷ giá, tuy nhiên với tỷ lệ như thế nào tùy thuộc vào cấu trúc thị trường, đặc điểm hàng hoá, độ co giãn của cung cầu và thế thương lượng của hai bên. Giá xuất khẩu chịu tác động từ biến động tỷ giá theo hai hướng ngược chiều nhau.
Một mặt, khi tỷ giá tăng lên đồng nội tệ mất giá sẽ làm giá xuất khẩu rẻ đi một cách tương đối, nâng tính cạnh tranh về giá của hàng hoá xuất khẩu nước nhà trên thị trường thế giới. Trong khi đó, giá nhập khẩu sẽ đắt hơn một cách tương đối so với hàng hoá trong nước. Mặt khác, theo chuỗi sản xuất và phân phối, hàng hoá xuất khẩu sẽ chịu ảnh hưởng của giá các yếu tố đầu vào nhập khẩu tăng lên và các chi phí khác do gia tăng nhu cầu sản xuất thay thế cho hàng nhập khẩu vốn đang đắt hơn tương đối do biến động tỷ giá. Vì vậy, tỷ giá tăng theo cơ chế truyền dẫn này sẽ làm giá xuất khẩu tăng lên, tuy nhiên sẽ có độ trễ vì các nhà sản xuất luôn cần thời gian để điều chỉnh giá cả và kế hoạch sản xuất.
Về mặt gián tiếp, các cú sốc tỷ giá có thể tạo ra sự thay đổi tương đối của giá cả các mặt hàng nội địa và nhập khẩu, từ đó tạo ra một sự dịch chuyển chi tiêu giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa trong nước. Người tiêu dùng và cả nhà sản xuất sẽ có xu hướng chuyển sang hàng nội địa (bao gồm hàng hóa tiêu dùng và cả nguyên vật liệu sản xuất), dẫn tới làm tăng giá các yếu tố sản xuất nội địa. Mức độ dẫn truyền của tỷ giá vào giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ càng lớn thì mức độ thay thế hàng nhập khẩu theo đó sẽ càng cao.2 Ý nghĩa của sự dẫn truyền tỷ giá đối với các biến vĩ mô thực Sự dẫn truyền của tỷ giá hối đoái lên các chỉ số giá thu hút được sự quan tâm nghiên cứu trong nhiều thập kỷ, và ngày càng có vai trò quan trọng trong bối cảnh thị trường thế giới ngày càng mở và hội nhập, dẫn tới mặt trái là các nền kinh tế sẽ dễ tổn thương hơn đối với các cú sốc bên ngoài. Khi có biến động tỷ giá, giá nhập khẩu sẽ có sự thay đổi tương đối với giá xuất khẩu, dẫn tới cầu nội địa đối với hàng nhập khẩu cũng như cầu thế giới đối với hàng xuất khẩu thay đổi, qua đó thay đổi cán cân thương mại.
Theo Devereux và Engel (2002), nếu mức độ dẫn truyền của tỷ giá vào giá nhập khẩu là thấp, mức độ giá tương đối thay đổi thấp dẫn tới mức độ thay thế hàng nhập khẩu càng ít, thì tỷ giá cần có những điều chỉnh đủ lớn để đưa nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng sau những cú sốc cơ bản. Ví dụ, khi có cú sốc làm giảm nguồn cung của hàng hóa nước ngoài hoặc cú sốc tăng chi phí sản xuất trong nước, thì cần có một sự điều chỉnh tăng tỷ giá đủ lớn để nâng giá tương đối của hàng hóa nhập khẩu, từ đó giảm cầu hàng hóa một cách hợp lý. Devereux và Engel (2002) cũng cho rằng các yếu tố như sự dẫn truyền tỷ giá lên giá cả, chi phí phân phối khác nhau giữa các hàng hóa và sự xuất hiện của các nhân tố nhiễu trên thị trường tài sản có thể dẫn tới sự dẫn truyền tỷ giá thấp. Điều này khiến tỷ giá biến động mà không hề tác động đến nền kinh tế thông qua tác động đến những biến vĩ mô cơ bản khác.
Cụ thể, những biến động trong tiêu dùng, GDP, lãi suất thực, cán cân tài khoản vãng lai hầu như không phản ứng trước biến động tỷ giá. Nói cách khác, biến động tỷ giá sẽ bị ngắt kết nối với nền kinh tế thực nếu sự dẫn truyền tỷ giá là thấp. Theo Edward (2006), nghiên cứu sự dẫn truyền tỷ giá có nhiều ý nghĩa đối với dự báo lạm phát và đưa ra các hàm ý chính sách tiền tệ. Nếu sự dẫn truyền từ biến động tỷ giá lên lạm phát là lớn, các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc các chính sách giảm giá đồng tiền có thể gây ra bất ổn về lạm phát hoặc có những phản ứng kịp thời khi có cú sốc tỷ giá.