Chương 1 giới thiệu một cách cơ bản và khái quát các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài ở phạm vi quốc tế và Việt Nam. Tác giả trình bày các nghiên cứu bàn luận về các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC đã được các nghiên cứu trước khám phá. Trên cơ sở trình bày khái quát các nghiên cứu có liên quan, tác giả phân tích và làm rõ các nghiên cứu trước, từ đó, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và đề xuất hướng đi của nghiên cứu này 1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 1.
Nghiên cứu của Sukmaningrum (2012) Nghiên cứu hướng đến việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của chính quyền địa phương (nghiên cứu thực nghiệm về Chính quyền huyện và Semarang). Sukmaningrum trong nghiên cứu đã phân tích ba yếu tố bị nghi ngờ ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của chính quyền địa phương, đó là chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống kiểm soát nội bộ, các yếu tố bên ngoài. Nghiên cứu này thu thập dữ liệu bằng cách phân phát bảng câu hỏi của 150 người được hỏi, được phân phát cho những người được hỏi rằng các nhân viên tại đơn vị công tác khu vực Phòng Quản lý Tài sản và Tài sản của 7 Thành phố Semarang và Phòng Quản lý Tài chính và Doanh thu của Khu vực Semarang Kết quả phân tích được tiến hành và kết luận các hệ thống kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của chính quyền địa phương, trong khi năng lực của nguồn nhân lực không có hiệu lực. Năng lực của nguồn nhân lực không đáng kể do thiếu nguồn nhân lực về chất lượng và số lượng.
Các yếu tố bên ngoài không thể được sử dụng như một sự kiểm duyệt giữa năng lực nguồn nhân lực và hệ thống kiểm soát nội bộ về chất lượng thông tin báo cáo tài chính. Các yếu tố bên ngoài đóng vai trò là biến độc lập và không ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.01: Mô hình nghiên cứu của Sukmaningrum (2012) 1. Nghiên cứu của Rapina (2014) Nghiên cứu hướng đến mục tiêu chính yếu là tìm hiểu tác động của các nhân tố đến CLHTTTKT, và tác động của CLHTTTKT đến CLTT KT, trong đó CLTT KT được đo lường thông qua các thuộc tính hữu ích của CLTT BCTC bao gồm: chính xác, phù hợp, kịp thời và đầy đủ.
Nghiên cứu này thực hiện tại Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố Cam kết của ban quản trị cấp cao; văn hóa tổ chức; cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng đến CLHTTTKT và CLHTTTKT có tác động tích cực đến Chất lượng TTKT. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.02: Mô hình nghiên cứu của Rapina (2014) 1. Nghiên cứu của Hongjiang Xu (2015) Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu chính yếu là tìm hiểu các nhân tố chính yếu tác động đến CLTTKT.
Nghiên cứu nhận định HTTTKT là một trong những hệ thống quan trọng nhất trong bất kỳ tổ chức nào. Bằng việc đánh giá tài liệu và tóm tắt các nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả xác định được các yếu tố quan trọng nhất tác động đến CLTTKT. Kết quả nêu ra ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến CLTT của HTTTKT gồm: cam kết quản lý; bản chất của HTTTKT (sự phù hợp của hệ thống) và kiểm soát chất lượng dữ liệu đầu vào. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.04: Mô hình nghiên cứu của Hongjiang Xu (2015) 1.
Nghiên cứu của Dadang Suwanda (2015) Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu tìm hiểu tác động của các nhân tố đến CLTT BCTC trong các đơn vị công tại Indonesia. Trong nghiên cứu, Dadang 9 Suwanda đã phân tích năm yếu tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC của chính quyền địa phương, đó là thực hiện chuẩn mực kế toán của chính phủ; chất lượng nguồn nhân lực; hệ thống kiểm soát nội bộ; cam kết với tổ chức; ứng dụng công nghệ thông tin. CLTT BCTC của nghiên cứu là một thang đo bậc hai, bao gồm 4 thành phần bậc 1 là Thích hợp (4 biến quan sát); Có thể tin cậy (3 biến quan sát); Có thể so sánh (3 biến quan sát); Có thể hiểu được (4 biến quan sát). Kết quả nghiên cứu cho thấy cả năm biến độc lập của mô hình là thực hiện chuẩn mực kế toán của chính phủ; chất lượng nguồn nhân lực; hệ thống kiểm soát nội bộ; cam kết với tổ chức; ứng dụng của công nghệ thông tin đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến CLTT BCTC với mức ý nghĩa của mô hình bằng 68,4%.
Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.04: Mô hình nghiên cứu của Dadang Suwanda (2015) 1. Nghiên cứu của Nunuy Nur Afiad & Peny Cahaya Azwari (2015) Nghiên cứu hướng đến việc xác định tác động của Hệ thống kiểm soát nội bộ đến CLTT BCTC và tác động của CLTT BCTC đến Hiệu quả quản lý trong các đơn vị Chính quyền địa phương tại Nam Sumatera Indonesia. Nghiên cứu đã tiến hành đo lường các khái niệm nghiên cứu bằng thang đo Likert, trong đó CLTT BCTC được đo lường bằng phương pháp trực tiếp với 4 thành phần gồm Thích đáng (Relevant), Đáng tin cậy (Riliable), Có thể so sánh (Comparability) và Có thể xác định được (Verifiable). Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp khảo sát các đơn vị Chính quyền địa phương tại Nam Sumatra.
Kết quả nghiên cứu cho thấy Hệ 10 thống kiểm soát nội bộ có tác động tích cực đến CLTT BCTC trong các đơn vị Chính quyền địa phương tại Indonesia với R2 bằng 41%. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.05: Mô hình nghiên cứu của Nunuy Nur Afiad & Peny Cahaya Azwari (2015) 1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Minh Châu (2016) Mục tiêu chính yếu của nghiên cứu là tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên điạ bàn Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp. Trong đó nghiên cứu định tính góp phần xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên điạ bàn Thành Phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến CLTT trên BCTC. Mô hình nghiên cứu gồm 7 nhân tố: Môi trường Pháp lý; môi trường kinh tế; môi trường văn hóa; môi trường chính trị; hê thống thông tin kế toán; khả năng của nhà quản lý; trình độ nhân viên kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy thứ tự tác động của các nhân tố đến CLTT BCTC theo thứ tự giảm dần như sau: Môi trường chính trị; hê thống thông tin kế toán; môi trường pháp lý; khả năng của nhà quản lý; trình độ nhân viên kế toán; môi trường văn hóa; môi trường kinh tế.
Bên cạnh đó mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu là 71,2% như vậy các nhân tố vừa nêu giải thích được 71,2% sự biến thiên của CLTT BCTC, còn lại 28,8% sự biến thiên của CLTT trên BCTC là do các nhân tố khác chưa được nghiên cứu trong đề tài này quyết định. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.06: Mô hình nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Minh Châu (2016) 1. Nghiên cứu của Võ Thị Thúy Kiều (2019) Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu chính yếu là tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến Chất lượng thông tin kế toán trình bày trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng.
Nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu, nhận diện mô hình nghiên cứu chính thức; Nghiên cứu định lượng xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến CLTTKT trình bày trên BCTC gồm 6 nhân tố gồm: hệ thống thông tin kế toán, trình độ nhân viên kế toán, môi trường pháp lý, cam kết của nhà quản lý, cơ chế tài chính áp dụng tại đơn vị, chất lượng dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các nhân tố trên đều có tác động đến CLTTKT trình bày trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh theo thứ tự giảm dần như sau: chất lượng dữ liệu, hệ thống thông tin kế toán, cơ chế tài chính áp dụng tại đơn vị, trình độ nhân viên kế toán, môi trường pháp lý, cam kết của nhà quản lý. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.08: Mô hình nghiên cứu của Võ Thị Thúy Kiều (2019) 1. Nghiên cứu của Đậu Thị Kim Thoa (2019) Nghiên cứu đã tìm hiểu các nhân tố bên trong đơn vị ảnh hưởng đến minh bạch thông tin kế toán của đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam.
Tác giả sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lương. Nghiên cứu đã sử dụng bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng là trưởng đơn vị, phó đơn vị, kế toán trưởng, kế toán viên, chủ tịch công đoàn với số lượng mẫu thu thập là 164 đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam.08: Mô hình nghiên cứu của Đậu Thị Kim Thoa (2019) Mô hình nghiên cứu gồm 9 nhân tố: sự hỗ trợ của nhà lãnh đạo; sự am hiểu của kế toán trưởng; sự am hiểu của kế toán viên; đặc điểm văn hoá tổ chức của đơn vị; đặc điểm cơ cấu tổ chức của đơn vị; mức độ tự chủ tài chính, mức độ đáp ứng của thiết bị phần cứng; mức độ đáp ứng của phần mềm; mức độ đáp ứng của công nghệ truyền thông. Kết quả nghiên cứu nhân tố đặc điểm văn hóa của tổ chức đơn vị có tác động mạnh nhất trong tất cả các nhân tố bên trong đơn vị đến minh bạch TTKT, kế đến là các nhân tố: mức độ tự chủ tài chính, mức độ đáp ứng của thiết bị phần cứng, sự am hiểu của kế toán trưởng, mức độ đáp ứng của phần mềm, sự am hiểu của kế toán viên, sự hỗ trợ của nhà lãnh đạo. Kết quả kiểm định cho thấy sẽ là một kênh tham khảo cho các nhà quản lý, cơ quan nhà nước và những người sử dụng thông tin để đánh giá minh bạch TTKT của các đơn vị SNCL.
14 Tuy nhiên luận án còn một số hạn chế như: đề tài chưa xem xét đến báo cáo quản trị; chưa xem xét đến các nhân tố bên ngoài tác động đến minh bạch TTKT của đơn vị SNCL.