chương 1, chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết cho hoạt động tài trợ chính phủ cho R&D và tác động của tài trợ đến hoạt động nghiên cứu và đổi mới khoa học công nghệ của doanh nghiệp. Chương 3 tập trung trình bày về dữ liệu, lựa chọn mô hình thực nghiệm, mô tả các biến cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn. Chương 4 trình bày các kết quả và những phát hiện chính của nghiên cứu, kết quả hồi quy cùng những thảo luận và dự báo của mô hình. Cuối cùng trong chương 5, tác giả tổng kết lại những phát hiện chính của nghiên cứu đồng thời cũng đề xuất các khuyến nghị chính sách cụ thể dựa vào kết quả của mô hình dự báo, cùng với đó là những hạn chế và hướng phát triển của đề tài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. R&D và sự hỗ trợ của nhà nước vào hoạt động R&D Trong vài thập kỷ vừa qua, sự thay đổi công nghệ đã nhận được sự quan tâm ngày càng tăng từ các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách vì sự thay đổi kích thích tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của một quốc gia. Một yếu tố quan trọng chi phối sự thay đổi công nghệ là sự tích lũy kiến thức thông qua hoạt động đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (Becker và Pain, 2003). Theo định nghĩa của OECD (1994) thì “Nghiên cứu và phát triển (R&D) bao gồm công việc sáng tạo trên cơ sở hệ thống để gia tăng lượng kiến thức, bao gồm kiến thức của con người, văn hóa, xã hội và việc sử dụng các kiến thức này để đưa ra các ứng dụng mới”.
R&D có các đặc điểm của hàng hóa công nên lợi ích nhận được của xã hội luôn cao hơn lợi ích nhận được của doanh nghiệp. Bên cạnh đó R&D còn là hoạt động có độ rủi ro cao và doanh nghiệp thực hiện R&D sẽ gánh chịu rủi ro trong trường hợp thất bại nhưng lại bị chia sẽ lợi ích khi thành công dẫn đến nhu cầu khám phá công nghệ thông qua R&D của doanh nghiệp rất thấp. Chính vì vậy, mặc dù nhận thấy tầm quan trọng của R&D đối với sự tăng trưởng kinh tế dài hạn của doanh nghiệp cũng như quốc gia song mức R&D tối ưu xã hội không thể đạt được nếu như thiếu sự can thiệp của nhà nước. Becker và Pain (2003) nhấn mạnh rằng thất bại thị trường là một lý do hợp lý cho sự can thiệp của nhà nước để hỗ trợ hoạt động R&D của doanh nghiệp.
Một số hình thức hỗ trợ Nhà nước có thể thực hiện nhiều biện pháp để hỗ trợ, kích thích hoạt động R&D của doanh nghiệp, thường được phân loại thành ba nhóm chính. Thứ nhất, nhà nước có thể khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động R&D thông qua các ưu đãi về thuế. Ưu đãi thuế R&D có thể giúp tăng đầu tư cho R&D và đôi chút lợi nhuận cho doanh nghiệp chỉ khi độ co giãn của R&D đối với chi phí là cao. Chính phủ thực hiện công cụ chính sách này để làm giảm rủi ro cho hoạt động R&D thông qua việc cắt giảm thuế căn cứ vào mức chi tiêu cho R&D của doanh nghiệp.
Hiện nay, có nhiều hình thức để thực hiện ưu đãi thuế như khấu hao nhanh chi phí đầu tư, tín dụng thuế. So với các phương thức hỗ trợ khác, đây là phương thức hỗ trợ minh bạch hơn và công cụ này là một cách tiếp cận thị trường có định hướng hơn. Guellec và Van Pottelsberghe (2000) lập luận rằng ưu đãi thuế không phụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- thuộc vào hiệu quả của hoạt động R&D do đó công cụ này sẽ không tác động đến cơ cấu R&D. Thứ hai, chính phủ có thể trực tiếp tài trợ cho doanh nghiệp R&D thông qua việc cấp hoặc/ và chi mua sắm cho các dự án R&D của doanh nghiệp.
Young (1998) kết luận rằng việc mua, tài trợ, và các ưu đãi tài chính chiếm phần lớn hỗ trợ R&D của chính phủ dành cho doanh nghiệp. Trong hình thức hỗ trợ này, các quỹ của chính phủ thực hiện mục tiêu hỗ trợ cho các dự án kỹ thuật cụ thể mà được cho là có khả năng mang lại hiệu quả cao cho xã hội. Mặc dù chính phủ hỗ trợ trực tiếp cho dự án R&D thực hiện bởi các doanh nghiệp chủ yếu bao gồm mua và tài trợ, nhưng chính phủ vẫn có thể hỗ trợ trực tiếp thông qua một số hình thức khác như bảo lãnh vay, cho vay có điều kiện, và khoản vay chuyển đổi. Cuối cùng, thông qua tài trợ cho các nghiên cứu công cộng (viện nghiên cứu công và các trường đại học), chính phủ có thể gián tiếp hỗ trợ R&D của doanh nghiệp.
Do mục tiêu chính của các tổ chức công là tạo ra kiến thức cơ bản để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và những kiến thức này có thể được doanh nghiệp sử dụng để cải thiện các lợi ích riêng của họ về đầu tư R&D. Bên cạnh đo, nghiên cứu cơ bản cũng có thể mở ra cơ hội mới để nghiên cứu kinh doanh, do đó ảnh hưởng đến năng suất. Thông qua hiệu ứng lan toả công nghệ, chính sách có khả năng để kích thích chi tiêu của doanh nghiệp cho các hoạt động R&D. Khi chính phủ cam kết tài trợ của mình với mục tiêu khuyến khích R&D tư nhân, họ có thể nhắm trực tiếp tài trợ cho doanh nghiệp thông qua việc trợ cấp hoặc/ và mua dự án R&D tư nhân để giảm chi phí cho doanh nghiệp, hoặc có thể hỗ trợ gián tiếp bằng cách cung cấp các cơ hội công nghệ sẵn có để các doanh nghiệp.
Nếu các chính sách hoạt động tốt, sau đó tài trợ công và chi tiêu tư nhân sẽ được bổ sung, có nghĩa là tăng cường độ của một dự án sẽ nâng cao các dự án khác. Tuy nhiên, những công cụ chính sách có thể gặp phải bốn thách thức chính: hiệu ứng chèn lấn hoàn toàn, hiệu ứng chèn lấn một phần, không có ảnh hưởng, và biến dạng phân bổ. Streicher, Schibany và Gretzmacher (2004) lập luận rằng chi phí R&D và các phản ứng đối với hỗ trợ R&D là kết quả của các quyết định nội bộ của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- doanh nghiệp. Do đó, các công cụ chính sách của chính phủ có thể không (hoặc chỉ một phần) ảnh hưởng đến chi tiêu R&D trực tiếp của doanh nghiệp.
Hình 2-1: Tác động của trợ cấp đến chi tiêu cho R&D của doanh nghiệp Nguồn: Input Additionality Effects of R&D Subsidies in Austria (2004). Thứ nhất, các hiệu ứng chèn lấn (crowding-out) hoàn toàn ngụ ý rằng hỗ trợ của chính phủ được doanh nghiệp xem như là "vận may bất ngờ". Doanh nghiệp sử dụng khoản hỗ trợ đó chỉ đơn giản là để thay thế chi tiêu của mình. Hơn nữa, chi tiêu chính phủ có thể làm tăng chi phí R&D để lấn át chi tiêu tư nhân.
Goolsbee (1998), David và Hall (2000), đã thấy rằng tài trợ của chính phủ tăng đáng kể mức lương của các nhà nghiên cứu. Ví dụ, tài trợ của chính phủ có thể làm tăng mức lương của các nhà nghiên cứu, mặc dù tổng số tiền chi phí R&D có vẽ cao hơn, nhưng không có gì thực sự thay đổi, và số tiền thực sự của R&D có thể còn thấp hơn so với trước đây. Các hiệu ứng chèn lấn một phần có nghĩa là các công ty có thể tăng chi tiêu cho R&D của họ, nhưng ít hơn so với số tiền hỗ trợ của chính phủ. Thứ hai, hỗ trợ công không có ảnh hưởng về chi tiêu R&D tư nhân xảy ra khi các doanh nghiệp duy trì mức chi tiêu cho R&D của họ, và sử dụng toàn bộ khoản trợ cấp để mở rộng tổng số nghiên cứu.
Bởi vì doanh nghiệp muốn làm R&D nhiều hơn của họ để tăng cường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -10- lợi thế của trên thị trường, nhưng khả năng tài chính của doanh nghiệp lại không đủ để thực hiện việc đó. Thứ ba, hiệu ứng kích thích (crowding-in) phản ánh tác động kích thích của hỗ trợ công đến chi tiêu R&D tư nhân, có nghĩa là với một đơn vị hỗ trợ công dành cho R&D sẽ gia tăng chi tiêu doanh nghiệp cho R&D nhiều hơn một đơn vị. Cuối cùng, những lý do gây biến dạng về phân phối là các quỹ của chính phủ phân bổ cho các dự án theo cách kém hiệu quả hơn so với thị trường sẽ làm. Nếu chính phủ tài trợ trực tiếp cho những dự án mà doanh nghiệp sẵn sàng thực hiện trong mọi trường hợp thì sẽ dẫn đến kết quả các nguồn lực không được phân bổ hiệu quả.
Hơn nữa, trong thị trường không hoàn hảo, có khả năng chính phủ cung cấp hỗ trợ tài chính cho một công ty/ dự án kém hiệu quả, gây ra sự lãng phí về nguồn lực. Các nghiên cứu trước đây về tác động của hỗ trợ của nhà nước đối với hoạt động R&D của doanh nghiệp Trong phần này, nghiên cứu trình bày một cái nhìn tổng quan về kết quả và phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của tài trợ công trong R&D. Mặc dù các nghiên cứu sau thường có xu hướng ước tính tác động giảm (đối với các khía cạnh khác nhau của hỗ trợ R&D) so với các nghiên cứu trước đó tuy nhiên chủ yếu vẫn cho thấy tài trợ công trong R&D tác động tích cực và đáng kể đến hoạt động R&D của doanh nghiệp. Vấn đề chính trong các nghiên cứu này là xử lý vấn đề thiên lệch do những doanh nghiệp nhận được trợ cấp của chính phủ thường không được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
Thay vào đó, nói chung, các dự án được chính phủ lựa chọn là các dự án có giá trị kinh tế dự kiến cao nhất. Các nghiên cứu gần đây cố gắng xử lý sự thiên lệch này bằng các sử dụng các phương pháp phù hợp. Gonzalez và cộng sự (2005) ước tính xác suất để một doanh nghiệp có thể nhận được trợ cấp, giả định một tập hợp các quan sát của doanh nghiệp được xác định trước (xác định các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp như kích cỡ, số năm hoạt động, ngành nghề, vị trí, tốc độ tăng vốn), để từ đó xác định tác động nhỏ nhưng tích cực của tài trợ lên đầu tư R&D của doanh nghiệp ở Tây Ban Nha. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.