Luận văn thạc sĩ ueh trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và tác động của nó đến hành vi tiêu dùng nghiên cứu trường hợp của vinamilk tại tphcm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và tác động của nó đến hành vi tiêu dùng nghiên cứu trường hợp, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ kinh tế

2014

117
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

1.4. Tính mới của đề tài

1.5. Kết cấu đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.2. Khái niệm Hành vi tiêu dùng và các khía cạnh của nó

2.3. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Thiết kế thang đo và bảng câu hỏi khảo sát

3.2.1. Thang đo cảm nhận trách nhiệm xã hội

3.2.2. Thang đo các khía cạnh hành vi tiêu dùng

3.3. Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

3.4. Đánh giá thang đo

3.4.1. Các phương pháp kiểm định thang đo

3.4.2. Kết quả nghiên cứu sơ bộ để đánh giá thang đo

3.5. Phân tích dữ liệu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH

4.1. Phân tích mô tả

4.2. Kiểm định mô hình đo lường

4.2.1. Kết quả kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha

4.2.2. Kết quả kiểm định thang đo bằng phân tích EFA

4.3. Kết quả phân tích hồi quy tác động của thành phần cảm nhận TNXH đến các khía cạnh hành vi tiêu dùng

4.3.1. Dò tìm vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính

4.3.2. Kết quả phân tích hồi quy

4.4. Đánh giá trị trung bình của các thành phần cảm nhận TNXH và các khía cạnh hành vi tiêu dùng theo giới tính, tuổi, thu nhập và học vấn

4.4.1. So sánh nhóm theo giới tính

4.4.2. So sánh nhóm theo độ tuổi

4.4.3. So sánh nhóm theo thu nhập hàng tháng

4.4.4. So sánh nhóm theo học vấn

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Những kết quả chính

5.2. Những hàm ý cho nhà quản trị

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đã trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lược kinh doanh hiện đại. Tại Việt Nam, đặc biệt là ở TP.HCM, các doanh nghiệp như Vinamilk đang ngày càng chú trọng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Điều này không chỉ giúp nâng cao hình ảnh thương hiệu mà còn tạo ra sự kết nối mạnh mẽ với người tiêu dùng. Nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của CSR đến hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm sữa của Vinamilk.

1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) được định nghĩa là cam kết của doanh nghiệp trong việc cải thiện phúc lợi cộng đồng thông qua các hoạt động kinh doanh. CSR không chỉ bao gồm các hoạt động từ thiện mà còn liên quan đến việc tuân thủ các quy định pháp luật và thực hiện các nghĩa vụ đạo lý.

1.2. Tầm quan trọng của CSR trong kinh doanh hiện đại

CSR đã trở thành một yếu tố quyết định trong việc xây dựng lòng tin của người tiêu dùng. Doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội sẽ thu hút được sự quan tâm và lòng trung thành từ khách hàng, từ đó nâng cao doanh thu và lợi nhuận.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thực hiện CSR tại Vinamilk

Mặc dù Vinamilk đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Các vấn đề như nhận thức của người tiêu dùng về CSR, sự cạnh tranh trong ngành sữa và áp lực từ các bên liên quan là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình CSR.

2.1. Nhận thức của người tiêu dùng về CSR

Người tiêu dùng hiện nay ngày càng quan tâm đến các hoạt động CSR của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng của CSR, điều này có thể ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của họ.

2.2. Sự cạnh tranh trong ngành sữa

Ngành sữa tại Việt Nam đang ngày càng trở nên cạnh tranh khốc liệt. Các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá cả mà còn về hình ảnh thương hiệu và các hoạt động CSR. Vinamilk cần phải nổi bật hơn trong các hoạt động này để thu hút khách hàng.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của CSR đến hành vi tiêu dùng

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để khảo sát ý kiến của người tiêu dùng về các hoạt động CSR của Vinamilk. Bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập dữ liệu về nhận thức, thái độ và hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm sữa của Vinamilk.

3.1. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế với các câu hỏi liên quan đến nhận thức về CSR, thái độ đối với thương hiệu và hành vi tiêu dùng. Các câu hỏi được xây dựng dựa trên các lý thuyết và mô hình nghiên cứu trước đó.

3.2. Phân tích dữ liệu khảo sát

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố CSR và hành vi tiêu dùng. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa các hoạt động CSR của Vinamilk và hành vi tiêu dùng của khách hàng. Người tiêu dùng có xu hướng ủng hộ các sản phẩm của Vinamilk hơn khi họ nhận thức được các hoạt động xã hội mà doanh nghiệp thực hiện.

4.1. Tác động của CSR đến lòng trung thành của khách hàng

Nghiên cứu cho thấy rằng những khách hàng nhận thức rõ về các hoạt động CSR của Vinamilk có xu hướng trung thành hơn với thương hiệu. Họ sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm của Vinamilk.

4.2. Ảnh hưởng của CSR đến đánh giá sản phẩm

Người tiêu dùng đánh giá cao các sản phẩm của Vinamilk không chỉ dựa trên chất lượng mà còn dựa trên các hoạt động CSR mà doanh nghiệp thực hiện. Điều này cho thấy rằng CSR có thể nâng cao giá trị thương hiệu.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho CSR tại Vinamilk

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực đến hành vi tiêu dùng. Vinamilk cần tiếp tục phát triển các chương trình CSR để duy trì và nâng cao lòng trung thành của khách hàng. Hướng phát triển tương lai nên tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về CSR.

5.1. Đề xuất các chương trình CSR mới

Vinamilk nên xem xét việc triển khai các chương trình CSR mới nhằm nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng. Các chương trình này có thể bao gồm các hoạt động giáo dục về dinh dưỡng và sức khỏe.

5.2. Tăng cường truyền thông về CSR

Doanh nghiệp cần tăng cường các hoạt động truyền thông để người tiêu dùng hiểu rõ hơn về các hoạt động CSR của mình. Việc này không chỉ giúp nâng cao hình ảnh thương hiệu mà còn tạo ra sự kết nối mạnh mẽ với khách hàng.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và tác động của nó đến hành vi tiêu dùng nghiên cứu trường hợp của vinamilk tại tphcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm nghiên cứu: trách nhiệm xã hội, các khía cạnh hành vi tiêu dùng và mối quan hệ giữa chúng. Đặt giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình phục vụ cho việc nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày về các thang đo, phương pháp khảo sát, quy mô mẫu khảo sát, xác định quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu: kiểm định thang đo, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Và, kết quả của nghiên cứu sơ bộ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Chương 4: Kết quả khảo sát và phân tích. Kiểm định thang đó, mô hình và các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá kết quả có được. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.

Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra các hàm ý cho nhà quản trị, đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài cũng như các hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Từ những năm 40 của thế kỷ 20, xét trên phạm vi thế giới, các doanh nghiệp đã nhận thức rằng các vấn đề xã hội đã có tác động ít nhiều đến hoạt động kinh doanh của họ. Tạp chí Fortune, từ năm 1946, khi điều tra để đưa ra bảng xếp hạng các doanh nghiệp đã quan tâm đến những trách nhiệm xã hội mà các doanh nghiệp thực hiện (Bowen, 1953, p.Kotler trong khoảng thời gian này có đưa ra khái niệm Marketing vì cộng đồng (Social Marketing), cũng đã làm rõ thêm xu hướng rằng doanh nghiệp có rất nhiều cách thức phát triển vừa bảo đảm lợi ích cho họ, đồng thời giúp đỡ xã hội ngày càng tốt hơn. Bowen được biết đến như một trong những người tiên phong về định nghĩa TNXH.

Theo ông, TNXH doanh nghiệp đề cập những nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc tuân thủ các chính sách, đưa ra quyết định hoặc theo đuổi một chuỗi hành động liên quan đến mục tiêu và giá trị xã hội mong muốn (Bowen, 1953).Kotler và Lee (2005) cũng đưa ra quan điểm của mình về TNXH doanh nghiệp, theo họ đây là sự cam kết để cải thiện phúc lợi cộng đồng thông qua hoạt động kinh doanh và những đóng góp tùy ý của doanh nghiệp. Và, Lantos (2001) cho rằng TNXH doanh nghiệp là nghĩa vụ của doanh nghiệp làm sao tối đa hóa tác động tích cực và tối thiểu hóa những ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình đóng góp cho xã hội, phải quan tâm những mong muốn và nhu cầu lâu dài của xã hội. Ngoài ra, theo ý kiến cá nhân, tác giả cảm thấy tâm đắc với hai định nghĩa sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Một là của Mohr cùng các đồng sự (2001). Theo họ, TNXH doanh nghiệp là một cam kết của doanh nghiệp nhằm hạn chế tới mức tối thiểu các ảnh hưởng gây hại và tối đa hóa những tác động có lợi mang tính dài hạn đối với xã hội.

Họ diễn giải thêm, những hành vi có trách nhiệm của doanh nghiệp có thể bao gồm: những hành động cải thiện công bằng xã hội, đóng góp giúp đỡ các tổ chức phi lợi nhuận, đối xử với công nhân viên bình đẳng, ôn hòa, giảm thiểu những tác hại tới môi trường… Thứ hai là của Carroll (1991), tác giả Carroll đề xuất TNXH doanh nghiệp nên được chia thành 4 mức độ: Trách nhiệm Kinh tế, Trách nhiệm Pháp lý, Trách nhiệm Đạo lý và Trách nhiệm Từ thiện. Tác giả diễn giải, Trách nhiệm Kinh tế đề cập tới việc doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận. Trách nhiệm Pháp lý ý chỉ tới việc doanh nghiệp phải tuân thủ luật pháp và các điều lệ đã quy định. Trách nhiệm Đạo lý liên quan đến việc doanh nghiệp phải có những việc làm mà theo quan điểm chung của xã hội là cần thiết, đúng đắn, thậm chí có những việc luật pháp không quy định.

Và cuối cùng là Trách nhiệm Từ thiện ám chỉ những đóng góp mang tính tự nguyện thể hiện lòng nhân ái, yêu thương con người của doanh nghiệp. Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm được trình bày khác nhau, tác giả vẫn nhận thấy bản chất của chúng về cơ bản là tương tự nhau. Để có thể tồn tại lâu dài, doanh nghiệp phải tạo ra các lợi ích đa bên, phải thể hiện sự quan tâm của mình đến khách hàng, người lao động, cổ đông, cộng đồng, môi trường… Tại Việt Nam, không ít những suy nghĩ thiển cận khi gắn TNXH doanh nghiệp chỉ dừng ở mức độ hiệu quả kinh tế, hay nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước. Đây là suy nghĩ chưa đầy đủ và chính xác.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - Với mong muốn có thể giúp mọi người hiểu rõ hơn về TNXH doanh nghiệp, tác giả quyết định chọn quan điểm của Carroll để thực hiện nghiên cứu này. Đây là lý thuyết nhận được nhiều sự quan tâm khi đề cập đến vấn đề TNXH doanh nghiệp. Theo Carroll, một cách đơn giản, TNXH doanh nghiệp có thể được xác định từ thấp đến cao theo dạng hình tháp. Chi tiết như sau: Hình 2.1: Mô hình tháp CRS của Carroll (1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Trách nhiệm Kinh tế Xét khía cạnh lịch sử, TNXH doanh nghiệp đơn thuần đã được hiểu ngay là trách nhiệm kinh tế.

Đối với mọi tổ chức hoạt động kinh doanh, trách nhiệm kinh tế là cơ sở căn bản đầu tiên phải tuân thủ (Carroll, 1979). Nó đề cập đến việc doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho xã hội với một mức giá hợp lý. Để làm được điều này lâu dài, bản thân doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận để tự “nuôi sống” mình, từ đó mới duy trì khả năng cung cấp hàng hóa hay dịch vụ. Hơn nữa, chỉ khi hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp mới có khả năng trả công cho người lao động, nâng cao lợi ích cho cổ đông cũng như các bên liên quan khác.

Như vậy, trách nhiệm kinh tế chính là nghĩa vụ căn bản của doanh nghiệp. Theo Maignan và Ferrell (2004), tại Mỹ, một doanh nghiệp khi chưa đạt được những thành tựu về mặt kinh tế mà lại theo đuổi nhều hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội thì bản thân nó đang trong tình trạng nguy hiểm (họ đưa ví dụ về trường hợp công ty Ben and Jerry’s Inc). Tóm lại, để giúp đỡ được người khác, tốt hơn hết bản thân doanh nghiệp phải vận hành hiệu quả trước tiên.2 Trách nhiệm Pháp lý Tuy trách nhiệm kinh tế quan trọng và cấp thiết như đã trình bày, nhưng khi theo đuổi nó, doanh nghiệp phải bảo đảm tuân thủ pháp luật và những điều lệ đã quy định. Không có xã hội nào khuyến khích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ một cách bừa bãi, không luật lệ.

Carroll (1991) còn chỉ rõ, doanh nghiệp không chỉ phải tuân thủ luật pháp do Chính phủ quy định, mà còn phải tuân thủ các điều lệ, tập quán mang tính khu vực, địa phương. Một doanh nghiệp muốn thành công thực sự nên nhận thức rằng phải tuân thủ những vấn đề này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 12 - Conchius (2006) còn cụ thể hơn khi đề cập đến các luật lệ mà doanh nghiệp nên quan tâm, bao gồm: luật liên quan đến sản phẩm, người tiêu dùng, luật về môi trường, luật về người lao động hay các quy tắc, luật lệ cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, hạn chế của luật pháp là không thể bao quát được hết mọi hành vi của doanh nghiệp.

Có những khe hỡ mà luật pháp chưa nhận thấy để bịt kín lại, dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc cho xã hội.3 Trách nhiệm Đạo lý Tới đây, nhiều suy nghĩ sẽ cho rằng trách nhiệm kinh tế và pháp lý đã đủ để xã hội bình đẳng, tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, thực tế tồn tại những hành động được xã hội chấp nhận hoặc mong muốn nhưng vượt ra khỏi quy định pháp lý. Theo Carroll (1979), trách nhiệm đạo lý hàm ý đến việc gìn giữ và bảo vệ những chuẩn mực, mong muốn mà khách hàng, người lao động, cổ đông hay cộng đồng đang quan tâm liên quan đến luân lý, đạo đức xã hội. Creyer và Ross (1997), tiến hành cuộc khảo sát hướng đến phụ huynh học sinh cấp 2 để đo lường phản ứng của họ đối với hành vi mang tính đạo lý của doanh nghiệp, kết quả cho thấy họ mong đợi doanh nghiệp nên duy trì các hoạt động tương tự như thế.

Nhiều người được khảo sát còn nhấn mạnh họ sẵn sàng mua sản phẩm với giá cao hơn nếu doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm đạo lý của mình. Nhiều trường hợp cho thấy cộng đồng xã hội, trong đó có người tiêu dùng ủng hộ các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động không được pháp luật quy định. Chẳng hạn, khi Mỹ tiến hành chiến tranh tại một số nước, trong đó có Việt Nam, các doanh nghiệp đã tổ chức đình công, biểu tình đề nghị Chính phủ ngừng chiến. Ta thấy tuy các doanh nghiệp đi ngược với mong muốn của Chính phủ, tuy nhiên xã hội lại ghi nhận hành động này vì họ cho rằng nó phù hợp với đạo lý, lẽ phải.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Trách nhiệm Từ thiện Trách nhiệm từ thiện được hiểu là những đóng góp về tài chính, công sức hay thời gian dành cho cộng đồng, giáo dục, nghệ thuật. Theo Carroll (1991), tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng rằng cấp quản lý và nhân viên của doanh nghiệp nên tham gia các hoạt động quyên góp và tình nguyện trong cộng đồng, đặc biệt là những dự án nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng. Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo lý là trách nhiệm từ thiện không cần ý thức về luân lý, bình đẳng, nó đơn giản là thể hiện lòng yêu thương, bác ái, nhân hậu của doanh nghiệp. Dẫu rằng xã hội mong muốn doanh nghiệp đóng góp tiền, của cải vật chất hoặc thời gian làm việc của nhân viên cho những chương trình với mục đích nhân văn, vì con người, nhưng không có nghĩa doanh nghiệp sẽ bị coi là vô trách nhiệm khi không thực hiện việc này.

Vì không ai bắt ép các doanh nghiệp làm điều đó. Nhiều doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển bình thường cho dù bản thân họ không tham gia những hoạt động từ thiện, quyên góp vì cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ