Chương 1: Trình bày cơ bản về vấn đề cần nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Nội dung lược khảo lý thuyết, trình bày khái niệm thu nhập và hạnh phúc cũng như nói lên mối quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc. Nêu các nghiên cứu khác có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của bài viết này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu trong bài đề cập đến khung phân tích thể hiện các yếu tố tác động đến hạnh phúc, giới thiệu sơ lược về mô hình phân tích, loại mô hình được thực hiện, ý nghĩa các biến giải thích, lý do lựa chọn và kỳ vọng dấu của các biến độc lập, trình bày nội dung của bộ dữ liệu mà bài nghiên cứu sử dụng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu được trình bày bao gồm thông tin nền về hạnh phúc và thu nhập, thực hiện thống kê mô tả bộ dữ liệu, kết quả hồi quy cũng như kiểm định mô hình hồi quy của bài nghiên cứu. Chương 5: Kết luận về kết quả mô hình và đưa ra hàm ý chính sách dựa trên nghiên cứu đạt được. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lược khảo lý thuyết 2.1 Khái niệm thu nhập Thu nhập thường có nhiều định nghĩa. Trong kinh tế học, thu nhập đối với cá nhân được hiểu là tất cả các khoản thu bằng tiền hay bằng hiện vật mà người lao động nhận được trong một khoảng thời gian làm việc nhất định.
Thu nhập đối với doanh nghiệp là khoản lợi nhuận ròng (doanh thu trừ đi chi phí) nhận được trong một khoảng thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh. Khái niệm thu nhập cá nhân trong bài nghiên cứu được hiểu là toàn bộ các khoản thu nhập mà cá nhân đó đã kiếm được trong năm qua. Thu nhập được đo lường từ thu nhập mà cá nhân kiếm được trong một đơn vị thời gian nhân với số lượng thời gian mà cá nhân đó đã làm trong năm. Ví dụ: cá nhân kiếm được thu nhập 10 triệu một tháng và trong năm chỉ làm 9 tháng thì thu nhập của cá nhân này là 90 triệu một năm.2 Khái niệm hạnh phúc Hạnh phúc thường được khái niệm trên các quan điểm chủ quan dựa trên kinh nghiệm trong cuộc sống.
Với người này, hạnh phúc là có chỗ ăn chỗ ở, một cuộc sống bình yên qua ngày. Với người khác, hạnh phúc là phải cống hiến cho xã hội, được lưu danh tên mình trong sử sách. Vì vậy, có thể thấy rằng nếu mục tiêu của cuộc đời khác nhau thì giá trị hạnh phúc ở mỗi người cũng khác nhau. Và việc hoàn thành được mục đích sống của bản thân hay không ảnh hưởng không nhỏ đến việc người đó có cảm thấy hạnh phúc hay không.
Quan niệm về hạnh phúc cũng khác nhau giữa các tôn giáo. Như trong Kito giáo: “Hạnh phúc của người công giáo chính là được làm con Thiên Chúa, là Cha đầy lòng yêu thương, và được làm con trong cung lòng Mẹ Hội Thánh.” Thể hiện rằng đối với người công giáo, hạnh phúc đơn giản là được sinh ra, được sống, được cảm nhận về tình thương Thiên Chúa. Hay trong Phật giáo, hạnh phúc là khi con người làm chủ được ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy), chỉ xem tiền bạc vật chất là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phương tiện sống, chọn lối sống hướng thiện, yêu thương con người sinh vật, tu dưỡng tâm tính để bản thân cảm thấy thanh tịnh, bình an. Hạnh phúc trong nghiên cứu khoa học lần đầu tiên được thể hiện qua cuốn sách The Science of Happiness của nhiều tác giả vào năm 1861.
Từ đó, đề tài về hạnh phúc của con người được nghiên cứu trong nhiều công trình, bài báo và được xem như một đối tượng của kinh tế học. Một nghiên cứu của Chan và Joseph (2000) cho thấy hạnh phúc là được thỏa mãn các khát vọng, nhu cầu mà bản thân họ mong muốn. Các nhu cầu của con người được thể hiện rõ nét qua học thuyết tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1943). Cụ thể, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs), nhu cầu bậc cao (meta needs) và được sắp xếp trong năm tầng: - Tầng thứ nhất: Các nhu cầu sinh lý như ăn, uống, nơi trú ngụ, bài tiết.
- Tầng thứ hai: Các nhu cầu an toàn mang lại cảm giác yên tâm như đảm bảo về sức khỏe, công việc, gia đình, tài sản. - Tầng thứ ba: Các nhu cầu về xã hội như có một gia đình yên ấm, người thân bạn bè thân thiết, sinh sống trong một cộng đồng văn minh. - Tầng thứ tư: Các nhu cầu được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng. - Tầng thứ năm: Các nhu cầu được tự thể hiện mình như muốn được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, được mọi người công nhận là sự thành công.
Con người chỉ có thể thỏa mãn các nhu cầu ở tầng trên khi đã thỏa mãn nhu cầu ở các tầng phía dưới đáy. Ví dụ một người sẽ không quan tâm đến việc được tôn trọng hay thể hiện bản thân nếu như họ không có đầy đủ thức ăn, nơi ở. Và việc đáp ứng được các nhu cầu ở các tầng cao thì mang đến một sự thỏa mãn mãnh liệt hơn, hạnh phúc hơn so với các tầng dưới. Nghiên cứu về hạnh phúc của con người sẽ dựa trên mức độ thỏa mãn trong cuộc sống của họ.
Khái niệm hạnh phúc trong bài nghiên cứu được hiểu như hạnh phúc dài hạn của con người, hay nói về mức độ hài lòng hoặc thỏa mãn của con người về cuộc sống của họ. Con người khi nhìn nhận về cuộc đời mình, thì cảm thấy hạnh phúc, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hay hài lòng về cuộc sống ở một mức độ như thế nào. Khái niệm hạnh phúc trong bài nghiên cứu được đo lường qua câu hỏi “Theo thang từ 1 đến 10 với 10 là hoàn toàn thỏa mãn, bạn hiện tại đang thỏa mãn đến đâu với cuộc sống của mình?” được lấy từ website: http://microdata.php/catalog/2018/study- description của World Bank (2012). Qua đó, theo diễn giải về ý nghĩa của câu hỏi này, hạnh phúc được đo bằng việc người này cảm thấy hài lòng, hay thỏa mãn về cuộc đời mình ở mức độ như thế nào, bởi người có mức độ hài lòng càng cao thì mức độ hạnh phúc dài hạn của họ cũng cao tương ứng.3 Mối quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc Theo nghiên cứu của Diener (1984) và Graham (2010), hạnh phúc có hai khái niệm cần phải được phân biệt rõ ràng để tránh sự nhầm lẫn.
Đầu tiên, con người thường bị cảm xúc về mặt tình cảm làm ảnh hưởng đến suy nghĩ về sự hạnh phúc. Các cảm giác thường ngày như buồn bã, vui vẻ, lo lắng, áp lực, tức giận chỉ biểu thị lên mặt cảm xúc trong thời gian ngắn, và được định nghĩa là loại hạnh phúc ngắn hạn. Loại thứ hai, hạnh phúc trong dài hạn, đề cập đến suy nghĩ của bản thân về cuộc đời của chính mình. Thường thông qua những câu hỏi như: “Bạn đã làm được điều gì để cuộc sống này trở nên tốt đẹp hơn?”.
Tác giả sẽ lựa chọn loại hạnh phúc thứ hai này làm thước đo để sử dụng trong bài nghiên cứu này. Ngoài ra, một nghiên cứu của Howell (2008) khi nghiên cứu về thước đo hạnh phúc tại 54 quốc gia đang phát triển. Ông đã chứng minh rằng SWB (subjective well-being) nên được đo lường bằng sự hài lòng, thỏa mãn trong cuộc sống (thông qua nhận thức, suy ngẫm và trải nghiệm) hơn là sử dụng các thang đo hạnh phúc (thông qua đánh giá cảm xúc, tình cảm). Điều này củng cố thêm giả thiết về việc lựa chọn hạnh phúc dài hạn làm thang đo trong bài nghiên cứu.
Và câu hỏi: “Theo thang từ 1 đến 10 với 10 là hoàn toàn thỏa mãn, bạn hiện tại đang thỏa mãn đến đâu với cuộc sống của mình?” trong cuộc khảo sát STEP (2012) sẽ được chọn làm cơ sở để đánh giá hạnh phúc của người dân sinh sống tại TP Hồ Chí Minh. Nghiên cứu của Diener và Biswas (2002) đã chứng minh được rằng có mối quan hệ giữa thu nhập với hạnh phúc. Khi thu nhập tăng lên sẽ kéo theo hạnh phúc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của họ cũng tăng theo. Điều này được lý giải qua việc khi có nhiều tiền hơn, con người ta có thể trang trải được cho cuộc sống, đáp ứng được các nhu cầu cơ bản thiết yếu (đối với những cá nhân nghèo đói), hay đáp ứng được các sở thích, ham muốn vật chất của con người.
Ngoài ra, bài nghiên cứu này còn đưa ra nhận định rằng, với những người có thu nhập cao, việc thu nhập tăng lên cũng làm tăng mức độ hạnh phúc của họ. Sự tác động của thu nhập lên hạnh phúc còn được nêu qua nghiên cứu của Headey và Muffels (2008) khi sử dụng bộ dữ liệu kinh tế hộ gia đình ở 5 quốc gia là Anh, Úc, Đức, Hungary và Hà Lan. Thông qua đánh giá lại tác động của phúc lợi kinh tế lên hạnh phúc, tác giả đã kết luận rằng sự giàu có ảnh hưởng nhiều đến sự hài lòng về cuộc sống, kể cả tại các quốc gia có chi tiêu tiêu dùng không bền vững ( như Anh và Hungary), thu nhập cũng ảnh hưởng lên hạnh phúc. Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng, việc hạnh phúc tăng lên không phải do tác động của thu nhập mà là do sự giàu có lên của một quốc gia, hay một nền kinh tế.
Nghiên cứu của Clark (2009) tại Đan Mạch, qua phân tích hồi quy bảng cho thấy rằng tùy thuộc vào thu nhập của hộ gia đình, người trả lời báo cáo đều có mức độ hài lòng về cuộc sống tăng lên khi thu nhập trung bình của khu vực lân cận tăng lên. Hay nghiên cứu của Shields (2008) nhằm giải thích nghịch lý Easterlin (Hạnh phúc trung bình sẽ không thay đổi theo thời gian bất chấp sự tăng mạnh của GNP trên đầu người) đã nêu lên mối quan hệ giữa hạnh phúc và độ hữu dụng. Qua đó, con người cảm thấy hạnh phúc hơn khi độ hữu dụng cao hơn, thông qua việc tiêu dùng hàng hóa, đầu tư và tiết kiệm, mà điều này lại đến từ việc tăng trưởng nền kinh tế dẫn đến tăng thu nhập. Chủ nhân của giải Nobel kinh tế năm 2015 là Angus Deaton và cộng sự của mình là Daniel Kahneman trong tác phẩm “Does Money Buy Happiness?” (2010) đã nêu lên mối quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc, liệu tiền bạc có thể mua được hạnh phúc hay không.