chương 1 ta đã phần nào định hình được về nơi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và những nội dung cần triển khai để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài. Để tìm hiểu sâu hơn và phân tích rõ hơn ta tiếp tục nghiên cứu ở các chương tiếp theo. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Tổng quan thanh khoản NHTM: 2.1 Khái niệm thanh khoản trong NHTM: [11, Trang 19] Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng luân chuyển tiền tệ.
Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh toán.2 Rủi ro thanh khoản trong NHTM: [2, Trang 138] Rủi ro thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định. Đề cập đến rủi ro, người ta thường nhắc tới hai yếu tố mang tính đặc trưng của rủi ro là mức độ thiệt hại của rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro (số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện trên tổng số trường hợp đồng khả năng). Rủi ro là yếu tố khách quan nên người ta không thể nào loại trừ được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại do chúng gây ra.3 Nguyên nhân làm giảm tính thanh khoản của NHTM: [2, Trang 168] Thứ nhất, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn.
Do đó, đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động mà 7 thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiền gửi đến hạn. Thứ hai, do ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư, nhất là các khoản tiền gửi. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người rút tiền vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lời cao hơn còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, do đó tác động đến tình trạng thanh khoản của ngân hàng.
Hơn nữa, xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Thứ ba, do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả: Các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả… Ngoại trừ ba nhân tố trên, điều cơ bản là các ngân hàng phải đặt sự ưu tiên cao đối với việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Mất cảnh giác trong lĩnh vực này có thể làm tổn hại nghiêm trọng niềm tin của công chúng.4 Cung - Cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng: [2, Trang 169] a. Cung thanh hoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng.
Cầu thanh hoản là nhu cầu vay vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. 1: Các ếu tố của cung cầu thanh hoản C NG TH NH HOẢN t C TH NH HOẢN t 1. Các khoản tiền gửi đang đến S1) 1. hách hàng yêu cầu các khoản tiền gửi 2.
Thu nhập từ việc bán các khoản dịch (D1) vụ S2) 2. Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất 3. Thu hồi tín dụng đã cấp S3) lượng cao D2) 4. án các tài sản đang kinh doanh và 3.
Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền đang sử dụng S4) gửi D3) 5. ay mượn từ thị trường tiền tệ S5) 4. Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ D4) 5. Thanh toán cổ tức cho các cổ đông D5) c.
Trạng thái thanh hoản r ng N t iqui it Position : bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến c ng với nhau tạo thành trạng thái thanh khoản ròng Net Liquidity Position – NLPt). Căn cứ vào các dữ kiện trình bày tại ảng 2.1 cho ta kết quả như sau: Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản–Tổng cầu thanh khoản (NLPt) = (S1+S2+S3+S4+S5) - (D1+D2+D3+D4+D5) a hả n ng ả ra nhƣ sau: NLPt =0: Ngân hàng trong tình trạng cân bằng thanh khoản (Cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản), đây là trường hợp rất hiếm khi xảy ra. NLPt>0 : Ngân hàng trong tình trạng thặng dư thanh khoản Liquidity surplus). Nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và thời điểm nào cần phải sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản này được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai.
Thặng dư thanh khoản là một trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động k m hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi của một ngân hàng đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lợi 9 của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không còn có khả năng sinh lời (tồn quỹ tiền mặt quá lớn) hoặc cũng có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh khi chưa có phương án sử dụng vốn có hiệu quả. Thanh khoản thừa thường được ngân hàng sử dụng như sau: Mua các chứng khoán dự trữ đã bán ra trước đó Cho vay trên thị trường tiền tệ ph hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa) Gửi tiền tại các NHTM khác NLPt<0: Ngân hàng trong tình trạng thiếu hụt thanh khoản (Liquidity deficit). hi hoạt động của ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, của nền kinh tế.có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, nghĩa là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền kinh tế.
hi đó ngân hàng có thể mất cơ hội đầu tư tốt, thậm chí mất khách hàng vay vốn, khách hàng tiền gửi vì ngân hàng thiếu vốn sẽ làm giảm lòng tin của người gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng k m đi. Trường hợp thiếu hụt thanh khoản nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất. Một số biện pháp như : Sử dụng dự trữ bắt buộc dư ra nếu có do tiền gửi kỳ này giảm so với kỳ trước) + án dự trữ bắt buộc thứ cấp các chứng khoán ngắn hạn do Chính phủ phát hành) ay qua đêm, vay tái chiết khấu tại NHNN Huy động vốn từ thị trường tiền tệ 2.2 Tác động của thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của NHTM: 2.1 Khái niệm chung về hiệu quả hoạt động NHTM: [8, Trang 30] Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có vai trò và chức năng đặc biệt trong nền kinh tế, đánh giá trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là hiệu quả hoạt động.
Hiệu quả hoạt động ngân 10 hàng được xem là kết quả lợi nhuận hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một thời gian nhất định. Trên một bình diện kinh tế - xã hội rộng hơn, thay cho hiệu quả là khái niệm hiệu năng. Hiệu năng hoạt động của ngân hàng là những đóng góp, những giá trị kinh tế - xã hội mà hoạt động ngân hàng mang lại cho cộng đồng và cho cả ngân hàng. Trong đó, giá trị phúc lợi cộng đồng và những đóng góp cho nền kinh tế là mang giá trị tổng quan nhất.2 Các sức ép đối với hiệu quả hoạt động NHTM: [8, Trang 30] Hoạt động của NHTM chịu rất nhiều sức ép.
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, thông thường được tổ chức dưới hình thức pháp lý là một công ty cổ phần đại chúng. Luôn có những sức p thường nhật trong việc đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM xuất phát từ những góc độ khác nhau: Áp lực từ cổ đông: Cổ đông tham gia vốn vào ngân hàng với mong muốn tối đa hóa giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ. Do đó, một ngân hàng có những tỷ suất doanh lợi cao thông thường sẽ hấp dẫn các cổ đông, trong khi đó, một ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ nhanh chóng làm nản lòng các nhà đầu tư, thậm chí dẫn đến các cuộc bán tháo ồ ạt cổ phiếu, ảnh hưởng đến sự an nguy của ngân hàng. Áp lực từ khách hàng: Trong xu hướng thông tin ngày càng dễ dàng tiếp cận như hiện nay, khách hàng chứng tỏ ngày càng quan tâm đến hiệu quả an toàn.
Chẳng hạn, đối với khách hàng gửi tiền, hiệu quả chính là cơ sở niềm tin của họ, làm cho họ an tâm trong việc ký thác vào ngân hàng các tài sản, tiền bạc của họ. Còn đối với khách hàng vay tiền, những ngân hàng hoạt động hiệu quả, những danh mục sản phẩm dịch vụ phong phú, có thể có nhiều khả năng cung ứng cho họ những nguồn vốn đa dạng hơn, rẻ hơn, với nhiều tiện ích lớn hơn từ cơ sở bán chéo sản phẩm. Áp lực từ nhân viên: Trên một phương diện nào đó, đặc biệt là những ngân hàng có quy mô lớn, nhân viên cũng chính là khách hàng của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ dễ dàng thu hút nhân tài, giữ chân được những nhân viên giỏi.