Tác Động Của Tham Vấn Đến Nhận Thức Về Tác Nhân Gây Stress Và Ứng Phó Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội

Luận án tiến sĩ tâm lý học phân tích stress ở nhân viên công tác xã hội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguyên nhân và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Lao động - Xã hội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
160
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Tác Động Tham Vấn Giảm Stress cho NVCTXH

Bài viết này tập trung phân tích tác động của tham vấn đến nhận thứcmức độ stress của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH). Công việc của NVCTXH thường xuyên đối mặt với áp lực công việc, các vấn đề xã hội phức tạp, dẫn đến nguy cơ cao bị stress nghề nghiệpburnout. Tham vấn được xem là một giải pháp giảm stress hiệu quả, giúp NVCTXH nâng cao sức khỏe tinh thần, cải thiện nhận thức về stress và các ứng phó với stress hiệu quả. Nghiên cứu này sử dụng các công cụ đo lường stress để đánh giá sự thay đổi trước và sau can thiệp. Kết quả cho thấy hiệu quả của tham vấn trong việc cải thiện mức độ căng thẳng và nâng cao nhận thức về stress cho NVCTXH.

1.1. Stress nghề nghiệp Thách thức của nhân viên công tác xã hội

NVCTXH thường xuyên phải đối diện với những tình huống khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự thấu hiểu, đồng cảm và kỹ năng giải quyết vấn đề cao. Áp lực công việc, khối lượng công việc lớn, thời gian làm việc kéo dài, cùng với sự thiếu hụt về nguồn lực hỗ trợ có thể dẫn đến stress nghề nghiệp, burnout và các vấn đề sức khỏe tâm thần khác. Việc hiểu rõ các tác nhân gây stress là bước quan trọng để xây dựng các giải pháp giảm stress hiệu quả. Theo tài liệu gốc, phần lớn NVCTXH có nhận thức hạn chế về các tác nhân gây stress, đây là một trong những lý do khiến họ dễ bị căng thẳng.

1.2. Tầm quan trọng của sức khỏe tinh thần cho NVCTXH

Sức khỏe tinh thần tốt là yếu tố then chốt để NVCTXH có thể hoàn thành tốt công việc và duy trì sự cân bằng trong cuộc sống cá nhân. Stress kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc mà còn gây ra các vấn đề về sức khỏe thể chất, mối quan hệ, và chất lượng cuộc sống. Do đó, việc quan tâm và hỗ trợ tâm lý cho nhân viên là vô cùng quan trọng. Việc này không chỉ giúp NVCTXH giảm stress mà còn tăng cường sự gắn kết với công việc và tổ chức.

II. Cách Tham Vấn Nâng Cao Nhận Thức về Stress cho NVCTXH

Tham vấn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về stress cho NVCTXH. Thông qua quá trình tham vấn, NVCTXH được tạo cơ hội để chia sẻ những khó khăn, áp lực công việc và nhận được sự hỗ trợ, tư vấn từ các chuyên gia. Tham vấn tâm lý giúp NVCTXH xác định các tác nhân gây stress, hiểu rõ hơn về nhận thức về stress, các phản ứng của cơ thể và tâm trí khi bị stress, từ đó xây dựng các chiến lược quản lý stress hiệu quả. Theo tài liệu nghiên cứu, sau tham vấn, đa số NVCTXH đã nhận thức phần nhiều về các tác nhân gây stress.

2.1. Xác định tác nhân gây stress thông qua tham vấn cá nhân

Tham vấn cá nhân tạo không gian an toàn, tin tưởng để NVCTXH chia sẻ những trải nghiệm cá nhân và xác định các yếu tố gây áp lực. Chuyên gia tham vấn sử dụng các kỹ thuật đặt câu hỏi, lắng nghe và phản hồi để giúp NVCTXH khám phá sâu hơn về nguồn gốc của stress, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình của mình. Ví dụ, trong phân tích trường hợp điển hình, chị N nhận ra rằng mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp cũng là một yếu tố gây stress, điều mà trước đây chị chưa nhận thức rõ.

2.2. Nhận biết ứng phó với stress hiệu quả sau tham vấn nhóm

Tham vấn nhóm mang đến cơ hội học hỏi kinh nghiệm từ những người khác. NVCTXH có thể chia sẻ những ứng phó với stress mà họ đã áp dụng và nhận được phản hồi, tư vấn từ các thành viên khác. Điều này giúp mở rộng nhận thức về ứng phó với stress và tìm ra những phương pháp phù hợp nhất với bản thân. Sau khi tham vấn nhóm, chị N nhận thấy cần chủ động xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp, từ đó cải thiện môi trường làm việc và giảm mức độ stress.

III. Phương Pháp Tham Vấn Giảm Mức Độ Stress Hiệu Quả cho NVCTXH

Nghiên cứu chứng minh rằng tham vấntác dụng giảm stress cho NVCTXH. Sau quá trình tham vấn, mức độ stress của NVCTXH giảm đáng kể. Điều này có thể được giải thích bởi việc tham vấn giúp NVCTXH giải tỏa những cảm xúc tiêu cực, tăng cường sự tự tin và khả năng quản lý stress. Các kỹ thuật can thiệp tâm lý, như liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), có thể được sử dụng để giúp NVCTXH thay đổi những suy nghĩ và hành vi tiêu cực, từ đó giảm mức độ căng thẳng. Theo kết quả thực nghiệm, mức độ stress ở NVCTXH giảm rõ rệt sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm, khẳng định hiệu quả của biện pháp tham vấn tâm lý.

3.1. Ứng dụng liệu pháp nhận thức hành vi CBT trong tham vấn

Liệu pháp CBT tập trung vào việc thay đổi những suy nghĩ và hành vi tiêu cực, giúp NVCTXH đối phó với stress một cách hiệu quả hơn. Ví dụ, NVCTXH có thể học cách nhận diện và thách thức những suy nghĩ tự ti, bi quan, từ đó xây dựng những suy nghĩ tích cực và lạc quan hơn. Liệu pháp CBT cũng giúp NVCTXH học cách giải quyết vấn đề một cách chủ động và hiệu quả hơn, từ đó giảm áp lựccăng thẳng.

3.2. Kỹ thuật thư giãn và tự chăm sóc trong quá trình tham vấn

Tự chăm sóc là một phần quan trọng của việc quản lý stress. Tham vấn viên có thể hướng dẫn NVCTXH các kỹ thuật thư giãn, như thiền, yoga, hoặc các bài tập thở, giúp giảm căng thẳng cơ bắp và làm dịu tâm trí. Bên cạnh đó, việc khuyến khích NVCTXH dành thời gian cho những hoạt động mà họ yêu thích, như đọc sách, nghe nhạc, hoặc đi dạo, cũng giúp cải thiện sức khỏe tinh thần và giảm mức độ stress.

IV. Kết Quả Thay Đổi Stress và Nhận Thức Sau Tham Vấn ở NVCTXH

Nghiên cứu cho thấy tham vấn mang lại những thay đổi tích cực về nhận thứcmức độ stress cho NVCTXH. Sau tham vấn, NVCTXH có nhận thức rõ rệt hơn về các tác nhân gây stress và các ứng phó với stress hiệu quả. Mức độ stress cũng giảm đáng kể sau tham vấn, cho thấy hiệu quả của tham vấn trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần của NVCTXH. Các phép kiểm định thống kê (Wilcoxon) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ stress trước và sau tham vấn, khẳng định tính khách quan của kết quả nghiên cứu.

4.1. Phân tích sự khác biệt về mức độ stress trước và sau tham vấn

Sử dụng các công cụ đo lường stress, nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ stress của NVCTXH giảm đáng kể sau tham vấn. Điều này cho thấy tham vấn là một giải pháp giảm stress hiệu quả. Bảng 3.30 trong tài liệu gốc cung cấp số liệu chi tiết về sự thay đổi mức độ stress ở NVCTXH trước, ngay sau, 3 tháng sau và 6 tháng sau tham vấn, cho thấy sự biến đổi rõ rệt và xu hướng giảm dần mức độ stress.

4.2. Trường hợp điển hình Minh chứng hiệu quả tham vấn giảm stress

Phân tích trường hợp của chị N cho thấy sự thay đổi rõ nét về mức độ stressnhận thức về stress sau tham vấn. Trước tham vấn, chị N có mức độ stress nặng và nhận thức hạn chế về các tác nhân gây stress. Sau tham vấn, chị N đã nhận thức rõ hơn về các yếu tố gây áp lực và áp dụng các ứng phó với stress hiệu quả, dẫn đến giảm mức độ stress và cải thiện chất lượng cuộc sống.

V. Ứng Dụng Đề Xuất Tham Vấn Giải Pháp Stress cho NVCTXH

Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của tham vấn trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần và giảm mức độ stress cho NVCTXH. Các cơ sở xã hội nên tăng cường cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý cho NVCTXH, đồng thời tạo điều kiện để họ tham gia các khóa đào tạo về quản lý stresstự chăm sóc. Việc xây dựng một môi trường làm việc hỗ trợ, nơi NVCTXH cảm thấy được lắng nghe và tôn trọng, cũng là yếu tố quan trọng để giảm thiểu áp lực công việcstress nghề nghiệp.

5.1. Xây dựng môi trường làm việc hỗ trợ và thân thiện

Một môi trường làm việc hỗ trợ và thân thiện, nơi NVCTXH cảm thấy được hỗ trợ, lắng nghe và tôn trọng, có thể giúp giảm thiểu áp lực công việcstress nghề nghiệp. Các nhà quản lý nên khuyến khích sự giao tiếp cởi mở, tạo cơ hội cho NVCTXH chia sẻ những khó khăn và kinh nghiệm, đồng thời cung cấp các nguồn lực hỗ trợ cần thiết.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ tâm lý cho nhân viên công tác xã hội

Các cơ quan quản lý nên xây dựng các chính sách hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho NVCTXH, bao gồm việc cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý miễn phí hoặc được trợ cấp, tạo điều kiện để NVCTXH tham gia các khóa đào tạo về quản lý stresstự chăm sóc, và xây dựng các chương trình phòng ngừa stress tại nơi làm việc.

VI. Tương Lai Phát Triển Tham Vấn Chuyên Sâu cho NVCTXH

Nghiên cứu này mở ra hướng đi cho việc phát triển các chương trình tham vấn chuyên sâu dành riêng cho NVCTXH. Các chương trình này cần được thiết kế dựa trên những đặc thù của công việc CTXH, đồng thời tích hợp các kỹ thuật can thiệp tâm lý hiệu quả nhất. Việc đánh giá hiệu quả của các chương trình tham vấn cũng cần được thực hiện một cách bài bản, sử dụng các công cụ đo lường stressnhận thức về stress phù hợp.

6.1. Nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả tham vấn

Cần có thêm các nghiên cứu chuyên sâu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tham vấn, như đặc điểm cá nhân của NVCTXH, loại hình can thiệp được sử dụng, và môi trường làm việc. Điều này sẽ giúp các nhà cung cấp dịch vụ tham vấn thiết kế các chương trình phù hợp và hiệu quả hơn.

6.2. Ứng dụng công nghệ trong hỗ trợ tham vấn tâm lý từ xa

Trong bối cảnh công nghệ phát triển, việc ứng dụng công nghệ vào hỗ trợ tâm lý cho nhân viên từ xa mang lại nhiều tiềm năng. Các ứng dụng di động, nền tảng trực tuyến, hoặc các công cụ tư vấn ảo có thể giúp NVCTXH tiếp cận dịch vụ tham vấn một cách dễ dàng và thuận tiện hơn, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa hoặc trong những tình huống khẩn cấp.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ tâm lý học stress ở nhân viên công tác xã hội phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

152 van hầu hết NVCTXH có nhận thức hạn chế, họ nhận thức được một it ứng phó với stress thì sau tham van họ đã nhận thức được nhiều ứng phó với stress cho tình huéng của bản thân. Nhận thức về tác nhân gây stress cho bản thân trước và sau tham vấn ở nhân viên công tác xã hội | Trước TT Nhận thức về tác nhân gây stress tham vấn 1 Không nhận thức được tác nhân gây stress 0 0 | 0 | 0 | 2 Nhận thức được phân nào (một ít) tác nhân 12 1 0 | 0 | ay strees 3 Nhận thức được phân nửa tác nhân gây 4 25 strcssS | | 4 Nhận thức được phan nhiều tác nhân gây 0 0 stress 5 Nhận thức được tat ca tac nhan gay stress | 0 | 0 Tong 16 100 Phép kiêm định cặp đôi phi tham số Wilcoxon, giá tri Z thu được là — 3.753 (trị tuyệt đối của Z > 1.96) và có giá trị p liên quan là 0.05 đã cho thay nhận thức của NVCTXH vẻ tác nhân gây stress cho bản thân trong thời điểm hiện tại trước và sau tham vấn có sự khác biệt rd. Sau tham van, đa số NVCTXH đã nhận thức phan nhiều về tác nhân gây stress cho bản thân trong thời điểm hiện tại. Nhận thức về ứng phó với stress cho tình huống của bản thân trước và sau tham vấn ở nhân viên công tác xã hội Nhận thức về ứng phó với stress tham vấn vấn Không nhận thức được ứng phó với 0 Stress Nhận thức được phan nào (một it) ứng hó với strees Nhận thức được tat cả ứng phó với stress Tổn 0 153 Phép kiểm định cặp đôi phi tham số Wilcoxon, giá trị Z thu được là — 3.598 (trị tuyệt đối của Z > 1.96) và có giá trị p liên quan là 0.05, đã cho thay nhận thức của NVCTXH về ứng phó với stress ở bản thân trong thời điểm hiện tại trước và sau tham vấn có sự khác biệt rõ.

Sau tham vấn, đa số NVCTXH đã nhận thức phần nhiều ứng phó với stress ở bản thân trong thời điểm hiện tại. Sự nhận thức của NVCTXH về tác nhân gây stress và ứng phó với stress càng được thé hiện rõ trong việc giải quyết 08 tình huống giả định. Mỗi nhóm được giao 02 tinh huống. Trong 8 tình huống thì có 6 tinh huỗông NVCTXH đã nhận thức được rõ các tác nhân gây stress va đưa ra ứng phó phù hợp.

Chỉ có 02 tinh huông, NVCTXH chưa nhận thức day đủ các tác nhân gây stress và đưa ra ứng phó chưa thực sự day đủ. Tuy nhiên sau đó khi trao đôi. thảo luận NVCTXH cũng đã nhìn nhận day đủ tắc nhân gay stress và đưa ra được ứng phó phù hợp. Sự thay đổi mức độ stress ở nhân viên công tác xã hội trước và sau tham vẫn Tìm hiểu sự thay đổi mức độ stress ở nhân viên công tác xã hội trước và sau tham van, thu được kết quả ở bảng 3.30 dưới đây: Bảng 3.

Mức độ stress ở nhân viên công tác xã hội trước và sau tham vấn Phép kiểm định cặp đôi phi tham số Wilcoxon về mức độ stress ở NVCTXH trước và ngay sau tham vấn, có giá trị Z thu được là — 3.162 ( trị tuyệt đỗi của Z > 1.96) và có giá trị p liên quan là 0.05, cho thấy mức độ stress ở NVCTXH 154 trước và ngay sau tham vấn có sự khác biệt rõ. Ngay sau khi tham vấn, đa số NVCTXH đã giảm mức độ stress. Điều này góp phần kháng định tham vấn nhóm có tac dung giảm stress cho NVCTXH. Phép kiém dinh cap đôi phi tham số Wilcoxon về mức độ stress ở NVCTXH ngay sau tham van và 3 tháng sau tham van, có giá trị Z thu được là — 3.000 (trị tuyệt đối cua Z > 1.96) và có giá trị p liên quan là 0.05, cho thấy mức độ stress ở NVCTXH ngay sau tham van và 3 tháng sau tham van có sự khác biệt rõ.

Đa số NVCTXH giảm mức độ stress 3 tháng sau tham vấn so với ngay sau tham van. Điều này một lần nữa khang định tác dụng của tham van nhóm tới việc giảm stress cho NVCTXH. Tuy nhiên vẫn có 7 NVCTXH không thay đôi mức độ stress. Tiếp tục sử dụng phép kiêm định cặp đôi phi tham số Wilcoxon về mức độ stress của NVCTXH 3 tháng sau tham van và 6 tháng sau tham van, có giá trị Z thu được là — 3.153 (trị tuyệt đối của Z > 1.96) và có giá trị p liên quan là 0.05, cho thấy mức độ stress của NVCTXH 3 tháng sau tham vấn và 6 tháng sau tham vấn có sự khác biệt rõ.

Điều này góp phần kháng định thêm tác dụng của tham vẫn nhóm tới việc giảm stress cho NVCTXH. Da số NVCTXH giảm mức độ stress 6 tháng sau tham vấn so với 3 tháng sau tham van, có 12 NVCTXH (75 %) có mức độ stress 6 tháng sau tham van nhỏ hơn 3 tháng sau tham van, tuy nhiên vẫn còn 4 NVCTXH có mức độ stress 3 tháng sau tham vấn và 6 tháng sau tham van bằng nhau. Số liệu bang 3.30 cho thấy có sự biến đổi rõ rệt mức độ stress ở những NVCTXH tham gia thực nghiệm trước tham van, ngay sau khi tham van, 3 tháng sau tham van và 6 tháng sau tham vấn. Trước tham vấn có 12 NVCTXH (75%) có mức độ stress nặng, 4 NVCTXH (25%) có mức độ stress rất nặng.

Ngay sau khi tham van chỉ còn 2 NVCTXH (12,5%) có mức độ rất nặng; 6 NVCTXH (37,5 %) có mức độ nặng: § NVCTXH (50%) có mức độ vừa. 3 tháng sau tham vẫn không còn NVCTXH nào có mức độ stress rất nặng; chỉ con 5 NVCTXH (31,25 %) có mức độ stress nặng; 7 NVCTXH (43,75 % ) có mức độ stress vừa và 4 NVCTXH (25%) có mức độ stress nhẹ. 6 tháng sau tham vấn không còn NVCTXH nào có mức độ stress nặng vả rất nang, chi còn 5 NVCTXH (31,25%) có mức độ stress vừa; 6 NVCTXH (37, 50%) có mức độ stress nhẹ và có 5 NVCTXH (31,25 %) thoát khỏi 155 stress. Điều nay cho thay tác dụng của tham vấn nhóm đối với việc giảm stress ở NVCTXH; do vậy dé giảm stress cho NVCTXH cần tăng cường tham van nói chung và tham vấn nhóm cho NVCTXH.

Qua kết quả thực nghiệm biện pháp tham van tâm lý, cho thấy NVCTXH có sự gia tăng nhận thức rõ rệt về tác nhân gây stress và ứng phó với stress sau thuc nghiệm so với trước thực nghiệm. Bên cạnh dé kết quả thực nghiệm cũng cho thấy mức độ stress ở NVCTXH giảm rõ rệt sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm. Kết quả này cho phép khang định biện pháp tham vẫn tâm lí là biện pháp có hiệu qua để trợ giúp NVCTXH giảm stress. Phân tích trường hợp điền hình trong thực nghiệm Chúng tôi tiến hành phân tích 1 trường hợp điền hình thê hiện sự thay đổi rõ nét mức độ stress trước và sau thực nghiệm đề minh chứng thêm cho kết quả thực nghiệm.

Trường hợp : chị N NVCTXH, tại cơ sở xã hội ở Thành Phố Hỗ Chí Minh Hoàn cảnh gia đình và công việc N36 tudi, là con gái đầu lòng trong gia đình có 2 chị em. B6 N là công an, còn mẹ là công nhân nhà máy mì Vifon nay đã nghỉ hưu. Hiện N đã có chồng và 2 con; con gái đầu lòng học lớp 2, con trai học lớp mẫu giáo lớn; chồng N là tài xế. N đã có nha riêng, không ở cùng bố, mẹ chồng; kinh tế ở mức trung bình, đủ trang trải cuộc sông.

Cuối năm 2014, N vào làm ở CSXH với vai trò NVCTXH chăm sóc trực tiếp trẻ em nam; năm 2016, N thi đỗ và vào học ngành Công tác xã hội K 2016 — 2020 tại cơ sở II, trường Đại học Lao động - Xã hội. Đầu năm 2020, N chuyên công tác sang bộ phận khác của CSXH với vai trò NVCTXH chăm sóc trực tiếp trẻ em nữ, khi tham gia thực nghiệm N vừa mới chuyên công tác. Áp lực công việc tại CSXH, học tập, công việc gia đình và chưa quen với môi trường làm việc mới đã làm cho N rơi vao trạng thai stress. Biểu hiện stress Qua những lần tiếp xúc chúng tôi thay, N biêu hiện sự căng thăng trên nét mặt.

giảm khí sắc, giảm sự tập trung chú ý, hành động chậm chạm, gò bó, né tránh nhiệm 156 vụ, cô lập bản than, ít tiếp xúc với bạn bé và những người xung quanh. Qua phiếu khảo sát N chúng tôi thu được: - Về mặt thê chất: nhức đầu; tăng hay giảm ngon miệng rất thường xảy ra. Nhức mỏi va đau, căng cơ bắp: hay thở dai, thở ngắn, thé gap; cảm lạnh hoặc cúm;thường xảy ra. Buồn nôn, chóng mặt, ù tai; xuất hiện các bệnh vẻ đa ; toát mô hôi; tăng hoặc giảm cân; rối loạn tiêu hóa; giảm khả năng tình duc; sức khỏe giảm sút xảy ra vừa phải.

Suy giảm hệ miễn dich; tim đập nhanh; có van đề về da dày thi thoảng xảy ra. - Về mặt nhận thức: khó khăn trong việc đưa ra quyết định; giảm kha năng phán đoán, đánh giá vẫn đẻ thường xảy ra. Cho rằng mình có lỗi trong những việc không vui xảy ra ở mức vừa phải. Hay nhầm lẫn, khó khăn trong tiếp thu xảy ra ở mức thi thoảng.

- Về mặt cảm xúc: dé bực bội; buồn phiên, chán nản; không hải lòng về bản than; lo lắng, hồi hộp thường xáy ra. Dễ bối rối; khó thoải mái được; mat tự tin; dé phật ý, tự ái; khó tran tĩnh sau bồi rối xảy ra ở mức vừa phải. Dễ bị kích động; không còn hứng thú với những sở thích va hoạt động hàng ngày diễn ra ở mức thi thoảng. - Về mặt hành vi: nỗi nóng, cau kinh, không làm chủ được bản than; ăn nhiều hoặc ít hơn; ngủ ít hoặc ngủ quá nhiều; không chia sẻ giao lưu thường xảy ra.

Không kiên nhẫn khi phải chờ đợi; hay kêu ca, phan nan; để xảy ra sai sót trong công việc xảy ra vừa phải. Phản ứng thai quá với mọi tình huồng; hay bỏ dé hoạt động không rõ lí do; trì hoãn va sao nhãng nhiệm vụ: giảm hoạt động tinh dục: vệ sinh thân the kém, trang phục luộm thuộm thi thoảng xảy ra. Kết quả trắc nghiệm tâm lí đánh giá mức độ stress Kết quả trả lời thang đo DASS 21 của Lovibond và cộng sự; phan câu hỏi liên quan tới stress, N ở mức độ stress nặng (28 điểm). Day là mức độ can được can thiệp.

Nếu không được can thiệp kịp thời có thé stress sẽ nặng hơn và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của N.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ