CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về suy thoái kinh tế và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một số khái niệm về suy thoái kinh tế. Suy thoái kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của các trường phái khác nhau: Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong vòng hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”.134] Theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) Hoa Kỳ cho rằng: “Suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng” [2.
Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như: việc làm, đầu tư và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại, tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ lạm phát. Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ tàn phá kinh tế gọi là sự suy sụp, đổ vỡ kinh tế.
Việc suy giảm kinh tế của nhiều quốc gia trong cùng một thời điểm dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới. Một số đặc điểm của suy thoái kinh tế - Tiêu dùng giảm mạnh,hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc nàydẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút. - Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái. - Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp a. Khái niệm về doanh nghiệp Khái niệm về doanh nghiệp theo Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014được hiểu: “ Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Từ khái niệm trên có thể nhận định được doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thị sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Khái niệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Theo Khoản 1 Điều 4 Mục 16 Luật Doanh nghiệp 2014: “Hoạt động kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.Hoạt động kinh doanh là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng với mục đích là thu được lợi nhuận nhằm mục đích mở rộng sàn xuất kinh doanh. Hoạt động kinh doanh được hiểu là một quá trình liên tục từ nghiên cứu thị trường và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó thông qua việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.2 Lý thuyết về suy thoái kinh tế và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Lý thuyết về suy thoái kinh tế 1. Chu kỳ phát triển kinh tế Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.
Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng). Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Biểu đồ thể hiện một chu kỳ kinh tế Các pha của chu kỳ kinh tế: Suy thoái: Là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm trong hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
Đặc điểm của nền kinh tế trong giai đoạn này là tỷ lệ thất nghiệp cao, thu nhập giảm sút, nguồn cung hàng hóa ứ đọng, tỷ lệ hàng tồn cao. Phục hồi:Là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ. Hoạt động kinh doanh bắt đầu tiến triển, doanh nghiệp tuyển lao động trở lại, tăng lượng đặt hàng từ nhà cung cấp.
Hưng thịnh:Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc phahưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế. Tại đỉnh của chu kỳ, hoạt động kinh doanh sẽ ngừng mở rộng thêm, việc làm, tiêu dùng, sản xuất của nền kinh tế đạt đến mức cao nhất Khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Các dấu hiệu của suy thoái kinh tế Tốc độ tăng trưởng chậm lại, tổng sản phẩm kinh tế quốc dân liên tiếp giảm qua các năm. Ta có công thức tính tốc độ tăng trưởng kinh tế: ( Y 1−Y 0 ) g ( % )= ∗100 % Y0 Trong đó: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com g( %): tốc độ tăng trưởng kinh tế Y1: tổng sản phẩm quốc nội GDP hoặc tổng sản phẩm quốc dân GNP ở thời kỳ nghiên cứu. Y2: Tổng sản phẩm quốc nội GDP hoặc tổng sản phẩm quốc dân GNP ở thời kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại nghĩa là tổng sản phẩm của nên kinh tế có tốc độ tăng giảm dần, thời kỳ sau tăng với tỷ lệ phần trăm giảm so với thời kỳ trước.
Sức mua của thị trường giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng cắt giảm và kết quả là GDP thực tế tiếp tục giảm sút. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, cầu lao động giảm. Đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống do hoạt động sản xuất bị đình trệ, đầu tư bị hạn chế, tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất bị giảm bới nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh, do nhu cầu giảm làm cho hàng hóa sản xuất ra không tiêu thu được. Nhu cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
Các hoạt động đầu tư ngưng trệ và chỉ mang tính chất cầm chừng. Các dạng suy thoái kinh tế Các nhà kinh tế học hay miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý. Có các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến: Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đổi chiều giữa hai pha này rõ ràng. Đây là kiểu suy thoái thường thấy.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953 Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm. Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái. Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau.3: Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975 Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp. Nền kinh tế vừa thoát khỏi suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái.4: Suy thoái hình chữ W, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980 Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái.
Một số nhà kinh tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5: Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản). Tác động của suy thoái kinh tế đến nền kinh tế Suy thoái kinh tế năm 2008 mang đến cho bức tranh kinh tế thế giới màu sắc u ám, nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó.Nền kinh tế gặp khó khăn như: - Khả năng thanh toán trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bị hạn chế. Dưới phạm vi ảnh hưởng rộng của suy thoái kinh tế, các lĩnh vực như: đầu tư, tài chính – ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Việc huy động vốn của các doanh nghiệp để hỗ trợ thanh toán cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trở nên khó khăn hơn. -Nguồn hàng cung cấp hàng hóa cũng bị ảnh hưởng.