CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1. Rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm rủi ro thanh khoản a. Khái niệm thanh khoản Thuật ngữ “thanh khoản” thường xuyên được nhắc đến trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Hiểu theo cách đơn giản, thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của tài sản một cách nhanh chóng. Ngân hàng nhà nước định nghĩa tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng đáp ứng những nhu cầu tức thời về tiền của NHTM như rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, chi trả phí hoạt động hay những nhu cầu cần phải thanh toán bằng tiền khác và chủ yếu liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Theo Malcolm D Knight (2008) khẳng định “Thanh khoản chính là dầu bôi trơn các bánh răng trong cỗ máy tài chính”. Nếu NHTM không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra khiến ngân hàng đình trệ hoạt động và kéo theo các hệ lụy về sau.
Thanh khoản trong NHTM là khả năng chi trả cho các nghĩa vụ đối với khách hàng khi đến hạn, bao gồm các cam kết cho vay, đầu tư và việc khách hàng rút tiền khỏi tài khoản, tiền gửi và các trách nhiệm pháp lý khác (Amengor, 2010). Theo Roman và Sargu (2015), thanh khoản là khả năng ngân hàng tài trợ cho việc gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ về thời hạn mà không bị thua lỗ. Hầu như mọi giao dịch hoặc cam kết tài chính đều ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng. Khái niệm rủi ro thanh khoản Ủy ban Basel (2008) định nghĩa “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh hàng ngày”.
5 Mặt khác, theo Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/08/2017 của Ngân hàng Nhà nước, rủi ro thanh khoản là khi ngân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, hoặc có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó. Do vậy, việc phải huy động vốn với chi phí cao hoặc bán tài sản với chi phí thấp để giữ thanh khoản sẽ dẫn đến thua lỗ, mất uy tín và nghiêm trọng hơn là dẫn đến phá sản. Duttweiler (2010) khẳng định “Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng yêu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán, từ đó kéo theo những hậu quả không mong muốn”. Các hoạt động chính của ngân hàng như cho vay, nhận tiền gửi được diễn ra liên tục nên thanh khoản ngân hàng chính là các dòng tiền được các NHTM tạo ra thông qua việc chuyển đổi từ tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Tính thanh khoản ngân hàng là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rút tiền gửi, giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết và các dịch vụ ngân hàng khác. Để đo lường rủi ro thanh khoản, người ta có thể sử dụng phương pháp cung cầu thanh khoản, phương pháp khe hở tài trợ hay phương pháp cấu trúc nguồn vốn. Tuy nhiên, theo hướng lượng hóa các dữ liệu đầu vào dựa trên nguồn dữ liệu là BCTC và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì phương pháp chỉ số tài chính là phù hợp và đem lại hiệu quả nhất. Các chỉ tiêu thanh khoản dùng để đánh giá theo Điều 11 Thông tư 52/2018/TT-NHNN gồm: Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao bình quân so với tổng tài sản bình quân Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tài sản Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng có số dư tiền gửi lớn so với tổng tiền gửi Trong bài nghiên cứu này khái quát 2 phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản là phương pháp dựa vào khe hở tài trợ và phương pháp dựa vào các chỉ số thanh khoản.
Đo lường rủi ro thanh khoản bằng phương pháp khe hở tài trợ (FGAP) Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các khoản tiền gửi là yếu tố chính góp phần tạo ra nguồn vốn huy động cho ngân hàng, điều này đồng nghĩa với việc khoản tiền này có thể được rút ra bất cứ lúc nào khi khách hàng có nhu cầu. Mặc khác, các khoản tài trợ tín dụng lại có đặc điểm là kém thanh khoản do các ràng buộc về mặt pháp lý và thời gian. Những điều này sẽ tạo ra khe hở tài trợ và dẫn đến rủi ro thanh khoản, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt thanh khoản khi khách hàng đột ngột rút các khoản tiền gửi lớn ra khỏi ngân hàng. Chỉ số đo lường khe hở tài trợ được tính như sau: Dư nợ tín dụng − Huy động vốn FGAP = Tổng tài sản Đặng Văn Dân (2015) cho rằng phương pháp khe hở tài trợ là phương pháp thích hợp nhất trong phân tích định lượng bởi các chỉ số khe hở tài trợ thể hiện dấu hiệu bất thường, cảnh bảo về rủi ro thanh khoản trong nội tại ngân hàng.
Khi tỷ lệ dư nợ tín dụng trên tổng tài sản của ngân hàng lớn thì dự trữ thanh khoản giảm, từ đó khiến nguy cơ rủi ro thanh khoản tăng lên. Việc mở rộng quy mô ngân hàng cũng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về tín dụng và thanh khoản. Thật vậy, khi ngân hàng có khe hở tài trợ lớn có nghĩa là việc dư nợ tín dụng tăng lên buộc ngân hàng phải phải giảm dự trữ thanh khoản hoặc đi vay vốn trên thị trường tiền tệ, dẫn đến rủi ro thanh khoản tăng cao. Nếu khe hở tài trợ nhỏ thì các khoản cho vay đang nhỏ hơn lượng vốn huy động, điều này thể hiện ngân hàng đang có nguồn vốn dư thừa và có thể tăng lượng dự trữ thanh khoản nhằm bảo đảm nhu cầu thanh khoản trong tương lai.
Tuy nhiên, việc nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản (ít khả năng sinh lời) sẽ làm tăng chi phí vốn để nắm giữ tài sản và suy giảm lợi nhuận của ngân hàng. Phương pháp dựa vào các chỉ số thanh khoản Chỉ số trạng thái tiền mặt Chỉ số trạng thái tiền mặt được tính như sau: Chỉ số trạng thái tiền mặt = Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTDTổng tài sản Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD Chỉ số trạng thái tiền mặt = Tổng tài sản 7 Tỷ lệ tiền mặt cao thể hiện khả năng đáp ứng tốt các nhu cầu thanh khoản tức thời, giúp ngân hàng giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản. Dù vậy, nếu tỷ lệ này quá cao sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống bởi các tài sản có tính thanh khoản cao thường có đặc điểm là khả năng sinh lời thấp. Tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn Tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn là yếu tố quan trọng trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Nghiên cứu của Berger và cộng sự (2013) chỉ ra rằng vốn chủ sở hữu tác động ngược chiều đến rủi ro thanh khoản. Các ngân hàng tăng vốn khiến khả năng tài chính được cải thiện. Do vậy, các ngân hàng có tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn cao sẽ hạn chế được các nguy cơ dẫn đến rủi ro thanh khoản trên hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu Nợ xấu là các khoản nợ có nguy cơ không thu hồi được và tiềm ẩn nhiều rủi ro của ngân hàng.
Nợ xấu cũng là nguyên nhân gây ra giảm doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng. Tỷ lệ này tăng lên sẽ kéo theo các khoản trích lập dự phòng rủi ro và chi phí quản lý nợ xấu cũng tăng lên. Các khoản nợ thu hồi chậm hoặc không thu hồi được sẽ làm chậm quá trình luân chuyển vốn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản của ngân hàng và làm tăng rủi ro thanh khoản. Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản có (CAP) Tỷ lệ CAP biểu thị năng lực tài chính của một NHTM.
Nếu một ngân hàng không đảm bảo được tỷ lệ vốn chủ sở hữu, thì ngân hàng này đang hoạt động không hiệu quả và bắt buộc phải chịu sự can thiệp của NHNN. Nghiên cứu của Berger và cộng sự (2013) khẳng định mối quan hệ ngược chiều giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro thanh khoản. Ngân hàng có tỷ lệ CAP cao so với trung bình ngành thể hiện năng lực tài chính tốt trong việc huy động vốn và khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán. Việc bảo đảm khả năng chi trả các khoản chi phí phát sinh giúp ngân hàng tránh được rủi ro thanh khoản.
Do đó, các ngân hàng có tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản có cao sẽ làm tăng khả năng thanh khoản hệ thống. Tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tiền gửi (LDR) Chỉ tiêu này luôn chiếm tỷ trọng cao và đóng vai trò chủ yếu trong hoạt động ngân hàng, thể hiện khả năng sử dụng nguồn vốn huy động để bảo đảm cho các hoạt 8 động cho vay. Các khoản khoản cấp tín dụng có kỳ hạn dài và bị ràng buộc về mặt thời hạn theo hợp đồng tín dụng sẽ có tính thanh khoản thấp do ngân hàng khó có thể thu hồi trước hạn. Điều này gián tiếp làm giảm nguồn vốn khả dụng cho ngân hàng thực hiện các nghĩa vụ về thanh toán của khách hàng và các NHTM sẽ phải đối mặt với rủi ro mất thanh khoản khi nhu cầu rút tiền của khách hàng đột ngột tăng cao.
Vì thế, tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tiền gửi có tác động ngược chiều đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra tại các NHTM có nhiều nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu chia làm 2 nhóm: các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố bên ngoài ngân hàng (các yếu tố vĩ mô). Các nhân tố bên trong ngân hàng Quy mô ngân hàng (Size) Các NHTM thường huy động vốn chủ yếu từ nguồn vốn ngắn hạn để cấp mới các khoản vay trung và dài hạn, điều này đem lại nguồn lợi nhuận dồi dào cho ngân hàng.