chương 1, chương 2 sẽ giới thiệu tong quan các lý thuyết, khái niệm then chốt trong dé tai và các lý thuyết nền tảng có liên quan như lý thuyết về quan điểm trọng dịch vụ (S-D logic), lý thuyết về nguồn lực. Trên co sở này, mô hình lý thuyết và các giả thuyết cũng sẽ được xây dựng dựa trên các khái niệm về nguồn lực phi vật chat, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng.1 Tổng quan về dịch vụ y tế 2.1 Khái niệm dịch vụ Hiện nay có nhiều định nghĩa về dịch vụ. Dịch vụ là bất kỳ một hành động, sự thé hiện hoặc trải nghiệm mà đối tượng này có thé cung cấp cho đối tượng khác. Bản chất dịch vụ là vô hình và không phải là kết quả của việc sở hữu cái gì (Lovelock & ctg, 2011).
Là một quá trình cung cấp thời gian, địa điểm, hình thức, giải quyết vấn đề hay là các giá trị trải nghiệm cho đối tượng nhận (Lovelock & ctg, 2011). Vargo & Lusch (2004) định nghĩa là sự cung ứng các khả năng (kiến thức và kỹ năng) của một đối tượng cho lợi ích của đối tượng kia. Ngoài ra, dich vụ còn được định nghĩa là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá tri sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hang (Zeithaml & Britner, 2000); hay là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thé cống hiến cho khách hàng nhăm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dai với khách hàng (Kotler & Amstrong, 2004). Dac tinh dich vu (Lovelock & Gummesson, 2004) Tinh dong thoi (Simultaneity): san xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời.
Tính không thé tách rời (Inseparability): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thé tách rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia. Tinh chất không dong nhất (Variability): không có chất lượng đồng nhất. Vô hình (Intangibility): không có hình hài rõ rệt.
Không thé thấy trước khi tiêu dùng. Không lưu trữ được (Perishability): không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được. Phân loại quá trình dịch vụ Từ hai câu hỏi cơ bản: "Ai (hoặc cái gì) mà hoạt động hướng tới" và "hoạt động này là hữu hình hay vô hình" quá trình dich vụ được chia làm bốn loại (Lovelock & ctg, 2011): - Những tác động hữu hình tới thân thé con người (people processing). - Những tác động hữu hình tới hàng hóa và các của cải vật chất khác (possession processing).
- Những tac động vô hình hướng tới tinh thần của con ngưởi (mental-stimulus processing). - Những tac động vô hình hướng tới các tai san vô hình (information processing).2 Dich vụ y tế Là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ y té bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế bao gồm các hình thức tư van, khám, chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng về thé chất cũng như tinh thần cho các bệnh nhân. le ium cla dich vy ti)" Tinh không thé đoán trước: Tính không dự đoán rất phô biésn trong thị trường ! Nguyễn Thị Hồng Minh (2011).
Phái triển dịch vụ y tê tu nhân ở Việt Nam. Trường Đại học Kinh Tế, Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính tri; Mã số: 60 31 01. chăm sóc sức khoẻ, nghĩa là con người không chủ động quyết định được thời gian mặc bệnh của mình. Tri thức không doi xứng: Trong y té tình trang thông tin không đối xứng thé hiện trong mối quan hệ đàm phán giữa bệnh nhân và bác sĩ.
Bác sĩ có rất nhiều tri thức, thong tin vê chân đoán, điêu tri so với bệnh nhân. Tính ngoại ung: Trong thị trường chăm sóc sức khoẻ thì ngoại ứng được dùng để chỉ những tác động gây ra bởi người sử dụng dịch vụ hàng hoá y tế đối với những người không sử dụng dịch vụ hàng hoá này. Những ngoại ứng gây ra tác động có hại thì gọi là ngoại ứng tiêu cực, những ngoại ứng gây ra tác động có lợi thì gọi là ngoại ứng tích cực. Dịch vụ y té luôn có rào cản gia nhập ngành: Dịch vụ y té là một ngành dịch vu có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế cụ thể: nguồn vốn, mặt bằng, trang thiết bị.
Phan loi dch vL Theo Lovelock & ctg (2011), dịch vụ có thể nhóm lại hoặc phân loại dựa vào các cách sau: -Mức độ hữu hình và vô hình của quá trình địch vụ: dịch vụ y tế là dịch vụ hữu hình khi bệnh nhân được khám và điều trị trực tiếp (phẫu thuật, nội soi, siêu âm.) Ngoài ra, dịch vụ là vô hình nếu bệnh nhân chỉ sử dụng dịch vụ tư van sức khỏe. -Đối tượng (ai hoặc cái gì) trực tiếp tiếp nhận quá trình dịch vu: con người (bệnh nhân) là đối tượng trực tiếp sử dụng dịch vụ y tế. Kết quả sau khi khám chữa bệnh là yếu tố quyết định đánh giá chất lượng dịch vụ y tế. Theo quan điểm marketing thì “bệnh nhân là khách hàng”, do đó, mọi hoạt động chuyên môn, hành vi, ứng xử của bác sĩ, cán bộ nhân viên y tế phải luôn hướng đến phục vụ và làm hài lòng bệnh nhân.
-Địa điểm Cung cấp dich vụ: dịch vụ y tế hiện nay, bệnh nhân vừa có thể trực tiếp đến bệnh viện /phòng khám hoặc có thé yêu cầu khám chữa bệnh tại nhà. Ngoại trừ một số căn bệnh phải cần đến các bệnh viện chuyên khoa riêng biệt dé khám chữa trị. Ngày nay, với sự phát triển của hệ thong y tế tư nhân, dịch vu khám chữa bệnh bên ngoài bệnh viện/phòng khám ngày càng phố biến, đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân khi cần khám chữa các bệnh lý thông thường nhưng họ không muốn hoặc không thể đến trực tiếp các cơ sở y tế này. Khách hàng giờ đây có thêm sự lựa chọn cho hình thức khám chữa bệnh của mình.
Van đề cho các nhà quan lý cơ sở y tế là giải pháp phân bố nguồn lực con người, cải tiễn phương tiện hỗ trợ kỹ thuật nham đáp ứng day đủ và kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh của khách hàng. -Mức độ chuẩn hóa của dịch vụ - sự fày biến so với sự tiêu chuẩn hóa: dịch vụ y tế được được xếp vào loại dịch vụ yêu cầu sự tùy biến cá nhân cao. Với cùng một quy trình khám chữa bệnh, tùy theo tính chất cơ lý của cơ thể từng bệnh nhân mà bác sĩ sé đưa ra một phương pháp điều trị thích hợp. Dé kết quả điều trị đạt hiệu quả, đòi hỏi phía cung ứng dịch vụ (bệnh viện /phòng khám) sẵn sàng thích nghỉ và đáp ứng các yêu cầu từ phía bệnh nhân.
-Moi quan hệ với khách hang: dịch vụ y tế là dịch vụ có một mối quan hệ không chính thức. Trong đó, bệnh nhân ít có ràng buộc hay cam kết và có quyên lựa chọn nơi khám chữa bệnh. Mối quan hệ giữa bệnh nhân và bác sĩ xảy ra trong quá trình dịch vụ. Chất lượng kết quả điều trị được bệnh nhân đánh giá sau khi kết thúc quá trình.
Tất cả hoạt động giao dịch được thừa nhận theo cá nhân riêng lẽ. Tu đó, dẫn đến việc xem xét sẽ quay trở lại điều trị tại bệnh viện/phòng khám nếu có van dé sức khỏe trong tương lai hoặc giới thiệu bệnh nhân khác đến với bệnh viện/phòng khám này hay không. -Tan suất sử dung dịch vụ - dich vụ diễn ra thường xuyên hay không thường xuyên: tùy theo đặc thù bệnh, dịch vụ y tế có thé là liên tục (theo dõi bệnh nhân thường xuyên, tái khám hàng tuân, hàng tháng) hoặc rời rạc theo từng giai đoạn (khám tong quát 1 năm/lần, khám nha khoa 6 thang/lan) trong quá trình sử dụng dịch vụ. Để nâng cao chất lượng dịch vụ, đòi hỏi phía cung ứng dịch vụ y tế phải có cơ sở dữ liệu bệnh nhân tốt để xây dựng hệ thống quản lý, chăm sóc khách hàng.
Cung cấp thông tin cho bệnh nhân chính xác, nhanh chóng nhăm giữ chân bệnh nhân và tạo ra hiệu ứng truyện miệng tích cực. -Mức độ tương tac cao hay thấp: dịch vụ y tế được xếp vào loại dịch vụ có tính tiếp xúc/tương tác cao. Trong quá trình khám chữa bệnh, bệnh nhân phải trình bày cụ thé tinh trang sức khỏe của mình với bác sĩ. Trong quá trình điều tri, bác sĩ thường xuyên theo dõi diễn biến của quá trình.
Sự giao tiếp, tương tác qua lại giữa bệnh nhân và bác sĩ có ảnh hưởng lớn đến kết quả khám chữa bệnh. Tiêu chí phân loại Ngành Y tế 1. Mức độ hữu hình và vô hình của quá trình Hữu hình dịch vụ 2. Đỗi tượng (ai hoặc cai gi) trực tiếp tiếp nhận Con người — Bệnh nhân quá trình dịch vụ 3.
Địa điểm cung cấp dịch vụ Nhiều : Thâp- yêu cau sự tùy biên cá 4. Mức độ chuân hóa của dịch vụ nhân cao , Khong chinh thirc- Giao dich 5. Môi quan hệ với khách hàng riêng lẻ 6. Tần suất sử dụng dịch vụ Không thường xuyên 7.
Mức độ tương tác Cao Tóm tắt đặc điểm dịch vụ y tế dựa theo cách phân loại cua Lovelock & ctg (2011) 2.3 Đặc điểm khách hàng sử dung dich vuy tế Khách hàng sử dụng dụng dịch vụ y tế được gọi là bệnh nhân. Họ sử dụng dịch vụ y tế khi gặp van đề về sức khỏe. Không giống như các ngành sản xuất hay cung cấp dịch vụ khác, khách hàng có thé đánh giá thông qua sản phẩm cụ thé. 10 Thực tế, bệnh nhân chỉ đánh giá được chất lượng dịch vụ y tế bằng cảm nhận thông qua kết quả điều trị và quá trình tiếp xúc với đội ngũ nhân viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất.
Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng thường không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (các cơ sở y tế).4 Thực trạng ngành Y tế tại Việt Nam Hoạt động khám bệnh của nước ta trong những năm gần đây khá phát triển và không ngừng tăng qua các năm. Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam vẫn chưa có một dịch vụ y tế chất lượng cao. Do nguyên nhân từ việc cung chưa đáp ứng được cầu trong lĩnh vực y tế, dẫn đến thực trạng bệnh viện đông bệnh nhân đến mức quá tải, đặc biệt là ở các khu vực cung cấp dịch vụ y tế công.