Tác động của năng lực doanh nhân đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại đồng bằng sông cửu long trường hợp ngành du lịch

Nghiên cứu tác động của năng lực doanh nhân đến hiệu quả kinh doanh của DNVVN ngành du lịch tại ĐBSCL. Phân tích chuyên sâu, hàm ý quản trị thực tiễn.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh, Du Lịch (Dựa trên tiêu đề)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Không rõ (cần thêm thông tin)
247
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động Năng Lực Doanh Nhân Ngành Du Lịch ĐBSCL

Ngành du lịch ĐBSCL có tiềm năng to lớn, đóng góp đáng kể vào kinh tế khu vực. Tuy nhiên, để phát triển bền vững và cạnh tranh, các DNVVN cần nâng cao năng lực doanh nhân. Năng lực doanh nhân không chỉ là yếu tố sống còn mà còn là chìa khóa để mở ra những cơ hội mới. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động của năng lực doanh nhân đến hiệu quả kinh doanh của DNVVN trong ngành du lịch tại ĐBSCL. Từ đó, đề xuất các giải pháp thiết thực giúp các doanh nghiệp này phát triển mạnh mẽ hơn. Theo Porter, nâng cao hiệu suất cho các doanh nghiệp của một quốc gia hay một vùng là yếu tố hết sức cần thiết góp phần tạo sự phồn thịnh cho quốc gia hay vùng đó. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì các nước đều chú ý hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy động tối đa các nguồn lực, góp phần tăng sức cạnh tranh cho những doanh nghiệp này.

1.1. Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

ĐBSCL sở hữu lợi thế tự nhiên về sông nước, miệt vườn, cùng với văn hóa đặc sắc. Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp đang trở thành xu hướng. Để khai thác hiệu quả tiềm năng này, DNVVN cần năng lực quản lý, năng lực marketing, đổi mới sáng tạo để tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các doanh nhân du lịch cần có tầm nhìn xa, khả năng thích ứng và tinh thần khởi nghiệp. Theo Quyết định số 2227/QĐ-TTg, ngày 18/11/2016 của Chính phủ phê duyệt, về việc Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ĐBSCL, đây là văn bản pháp lý quan trọng để tạo cơ sở khai thác tiềm năng thế mạnh của Vùng cho phát triển du lịch.

1.2. Vai Trò Của Doanh Nghiệp Nhỏ và Vừa Trong Ngành Du Lịch ĐBSCL

DNVVN đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thu nhập cho người dân địa phương. Các doanh nghiệp này thường linh hoạt, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường. Tuy nhiên, DNVVN cũng gặp nhiều khó khăn về vốn, nhân lực, kinh nghiệm quản lý. Do đó, cần có các chính sách hỗ trợ từ nhà nước, các tổ chức xã hội để giúp DNVVN phát triển bền vững. Cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ĐBSCL, các địa phương đã triển khai thực hiện chương trình liên kết, hợp tác phát triển du lịch Cụm phía Tây, gồm: An Giang - Kiên Giang - Cà Mau - TP. Cần Thơ - Bạc Liêu - Sóc Trăng - Hậu Giang; Cụm phía Đông gồm: Long An - Tiền Giang - Bến Tre - Vĩnh Long - Trà Vinh - Đồng Tháp

II. Thách Thức Nâng Cao Năng Lực Doanh Nhân Du Lịch Tại ĐBSCL

Mặc dù có tiềm năng phát triển, DNVVN ngành du lịch ĐBSCL vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Năng lực doanh nhân còn hạn chế, đặc biệt là trong các lĩnh vực quản trị rủi ro, năng lực tài chính, năng lực marketing. Khả năng cạnh tranh còn yếu, chất lượng dịch vụ chưa cao. Hơn nữa, môi trường kinh doanh còn nhiều bất ổn, chính sách hỗ trợ chưa thực sự hiệu quả. Theo Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI đánh giá: “Du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Với mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch, đưa ra những giải pháp tháo gỡ hạn chế, yếu kém”.

2.1. Thiếu Hụt Nguồn Nhân Lực Du Lịch Chất Lượng Cao Tại ĐBSCL

Nguồn nhân lực du lịch tại ĐBSCL còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Kỹ năng chuyên môn, ngoại ngữ, tin học còn hạn chế. Đào tạo doanh nhân chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành du lịch. Các DNVVN cần đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân viên, tạo môi trường làm việc tốt để thu hút và giữ chân nhân tài.

2.2. Khó Khăn Tiếp Cận Vốn Và Ứng Dụng Công Nghệ Trong Kinh Doanh

DNVVN thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số còn chậm. Điều này làm giảm hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Cần có các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và kinh doanh du lịch của DNVVN là yêu cầu cấp thiết.

III. Cách Tăng Cường Năng Lực Doanh Nhân Ngành Du Lịch ĐBSCL

Để nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNVVN ngành du lịch ĐBSCL, cần có các giải pháp đồng bộ. Tăng cường năng lực doanh nhân thông qua các chương trình đào tạo, tư vấn, hỗ trợ khởi nghiệp. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, thích ứng. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, cạnh tranh. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động của năng lực doanh nhân đến hiệu quả kinh doanh của DNVVN trong ngành du lịch tại ĐBSCL.

3.1. Phát Triển Năng Lực Quản Lý Chiến Lược Cho Doanh Nghiệp Du Lịch

Các doanh nhân cần được trang bị kiến thức, kỹ năng về quản lý chiến lược, lập kế hoạch kinh doanh, quản trị rủi ro. Xây dựng tầm nhìn dài hạn, xác định mục tiêu rõ ràng. Phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Năng lực chiến lược, năng lực phân tích, năng lực tổ chức và lãnh đạo, năng lực cam kết, năng lực cơ hội, năng lực cá nhân, năng lực học tập, năng lực đạo đức, năng lực mối quan hệ và năng lực kỹ thuật là những yếu tố cần được chú trọng.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Marketing Và Xúc Tiến Du Lịch Hiệu Quả

DNVVN cần chú trọng năng lực marketing, quảng bá thương hiệu, xây dựng mối quan hệ với khách hàng. Ứng dụng các công cụ marketing trực tuyến, mạng xã hội. Tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch. Xây dựng hình ảnh du lịch ĐBSCL hấp dẫn, chuyên nghiệp. Theo Nguyễn Thành Long (2016), năng lực doanh nhân, sáng nghiệp công ty và vốn xã hội tác động dương đến KQKD của DNNVV.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Kinh Nghiệm Thực Tế Thành Công Tại ĐBSCL

Nghiên cứu này sẽ phân tích các trường hợp DNVVN thành công nhờ có năng lực doanh nhân vượt trội. Chia sẻ kinh nghiệm, bài học quý báu để các doanh nghiệp khác học hỏi. Xây dựng mạng lưới kết nối, chia sẻ thông tin giữa các doanh nhân trong ngành du lịch ĐBSCL. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nhân và năng lực doanh nhân có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng. Năng lực doanh nhân được coi là khía cạnh quan trọng nhất cho sự phát triển và thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào (Mitchelmore & Rowley, 2010).

4.1. Phân Tích Mô Hình Kinh Doanh Hiệu Quả Của DNVVN Du Lịch

Nghiên cứu sẽ tập trung phân tích các mô hình kinh doanh thành công, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp được đánh giá cao về tính bền vững và hiệu quả. Các mô hình kinh doanh cần phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, phát huy tối đa tiềm năng của ĐBSCL. Nghiên cứu của Sakib, M.N và cộng sự (2022), Yunusa Mohammed Kaigama (2023) kết quả chỉ ra rằng năng lực kinh doanh ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

4.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ Phát Triển DNVVN Du Lịch Tại ĐBSCL

Nghiên cứu sẽ đề xuất các chính sách hỗ trợ thiết thực, phù hợp với đặc thù của ngành du lịch ĐBSCL. Các chính sách cần tập trung vào việc đào tạo doanh nhân, hỗ trợ vốn, ứng dụng công nghệ, xúc tiến du lịch, bảo vệ môi trường. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội để thực hiện hiệu quả các chính sách. Chính quyền và ngành du lịch vùng ĐBSCL cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn kinh doanh lưu trú, lữ hành. phù hợp với từng địa phương trong vùng, cũng như kịp thời phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động du lịch cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch vùng ĐBSCL thực hiện.

V. Kết Luận Năng Lực Doanh Nhân Chìa Khóa Thành Công Tại ĐBSCL

Nghiên cứu này khẳng định vai trò quan trọng của năng lực doanh nhân đối với hiệu quả kinh doanh của DNVVN trong ngành du lịch tại ĐBSCL. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp cần không ngừng nâng cao năng lực, khả năng thích ứng, đổi mới sáng tạo. Cần có sự chung tay của cả cộng đồng để xây dựng ngành du lịch ĐBSCL ngày càng phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì các nước đều chú ý hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy động tối đa các nguồn lực, góp phần tăng sức cạnh tranh cho những doanh nghiệp này.

5.1. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Năng Lực Doanh Nhân Trong Du Lịch

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá tác động của văn hóa doanh nghiệp đến hiệu quả kinh doanh. Phân tích vai trò của chính sách hỗ trợ của nhà nước. Nghiên cứu các mô hình kinh doanh mới, sáng tạo trong ngành du lịch. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về năng lực doanh nhân và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn. Vấn đề nghiên cứu về thành phần năng lực doanh nhân ở Việt Nam còn hạn chế, do vậy cần có một đề tài nghiên cứu để chỉ ra rõ tác động của năng lực doanh nhân đến KQKD của DN Việt Nam trong từng ngành cụ thể.

5.2. Kiến Nghị Để Phát Triển Ngành Du Lịch ĐBSCL Bền Vững

Cần có quy hoạch phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa. Đầu tư vào hạ tầng du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ. Tăng cường xúc tiến du lịch, quảng bá hình ảnh ĐBSCL trên thị trường quốc tế. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực để phát triển du lịch đồng bộ, hiệu quả. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 103/NQ-CP triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW đến các cấp, các ngành, doanh nghiệp và phấn đấu đến năm 2030, du lịch Việt Nam thực sự là ngành kinh tế trọng tâm, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội.

12/05/2025
Tác động của năng lực doanh nhân đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại đồng bằng sông cửu long trường hợp ngành du lịch

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 bao gồm các phần chính: Sự cần thiết của nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận án và bố cục của luận án. Qua đó, tác giả mô tả các vấn đề được trình bày trong luận án, giúp người đọc nắm được quy trình nghiên cứu tương ứng.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1.1 Tiếp cận lý thuyết “Mỗi quốc gia luôn có cơ hội để vươn lên thịnh vượng dù kém về tài nguyên, nguồn lực lao động hay vốn liếng, miễn sao doanh nghiệp của quốc gia đó phải có được sức mạnh” (Porter. Vì thế việc nâng cao hiệu suất cũng như kết quả kinh doanh cho các doanh nghiệp của một quốc gia hay một vùng là yếu tố hết sức cần thiết góp phần tạo sự phồn thịnh cho quốc gia hay vùng đó. Vấn đề được quan tâm khá nhiều hiện nay là nâng cao hiệu suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì “họ có đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cải thiện phân phối thu nhập” (Abdullah & Manan, 2011).

Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì các nước đều chú ý hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy động tối đa các nguồn lực, góp phần tăng sức cạnh tranh cho những doanh nghiệp này. Nghiên cứu về doanh nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới thực hiện, trong đó có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nhân và năng lực doanh nhân có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng. Năng lực doanh nhân được coi là khía cạnh quan trọng nhất cho sự phát triển và thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào (Mitchelmore & Rowley, 2010). Năng lực kinh doanh của doanh nhân có liên quan đến sự ra đời, tồn tại, phát triển và thành công của một doanh nghiệp (Bird,1995; Baum và cộng sự, 2001; Colombo & Grilli, 2005).

“Năng lực doanh nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao kết quả kinh doanh của công ty, có tác dụng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động công ty” (José Sánchez, 2011). Do đó, doanh nhân được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng (Roblesa, L., Zárraga-Rodrígueza, M. 1 Man (2001) đã khám phá lĩnh vực năng lực doanh nhân và kết nối nó với hoạt động của tổ chức trong lĩnh vực dịch vụ của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hồng Kông, liên hệ những năng lực kinh doanh này với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh ngành dịch vụ của Hồng Kông. Ahmad (2007) đã mở rộng lĩnh vực năng lực do Man (2001) cung cấp và liên hệ những lĩnh vực này với hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Úc và quan điểm đa văn hóa của Malaysia.

Nhiều nghiên cứu đã cố gắng phác họa mối quan hệ giữa năng lực doanh nhân và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Mitchelmore & Rowley, 2010; Bird, 1995; Baum và cộng sự, 2001; Colombo & Grilli, 2005; Ahmad, 2007 và Man, 2001). Các nghiên cứu trước đây chỉ ra mười lĩnh vực năng lực cụ thể của các doanh nhân như: năng lực chiến lược, năng lực phân tích, năng lực tổ chức và lãnh đạo, năng lực cam kết, năng lực cơ hội, năng lực cá nhân, năng lực học tập, năng lực đạo đức, năng lực mối quan hệ và năng lực kỹ thuật. Do đó, có đủ lý do để tin rằng có mối quan hệ giữa mười lĩnh vực năng lực cụ thể và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Man, 2001; Ahmad, 2007; Baum và cộng sự, 2001; Man & Chan, 2002; Ahmad và cộng sự, 2010). Hơn nữa, Man và cộng sự (2002) đã phát triển một mô hình phân tích liên quan đến hiệu suất công ty với năng lực kinh doanh, năng lực tổ chức và phạm vi cạnh tranh của công ty.

Theo năng lực kinh doanh, họ đã đề cập đến sáu lĩnh vực năng lực có tên là năng lực cơ hội, năng lực mối quan hệ, năng lực phân tích, năng lực tổ chức, năng lực chiến lược và năng lực cam kết. Tương tự, Chandler & Jansen (1992) chỉ ra sự liên quan đến vai trò doanh nhân, vai trò quản lý và vai trò chức năng kỹ thuật với hoạt động kinh doanh trong bối cảnh phân tích của Bang Utah về các công ty kinh doanh. Li và cộng sự (2009) khẳng định mối quan hệ tích cực của doanh nghiệp (chấp nhận rủi ro, đổi mới, năng nổ, cạnh tranh, chủ động và tự chủ) với hiệu suất của công ty và cho rằng quá trình sáng tạo tri thức đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này. Họ liên hệ trực tiếp định hướng kinh doanh với hiệu quả hoạt động của công ty trong mô hình của họ với một biến trung gian của quá trình tạo ra tri thức.

Nguyễn Thành Long (2016) còn đưa ra vai trò của năng lực doanh nhân, sáng nghiệp công ty và vốn xã hội đối với KQKD của DNNVV ở Việt Nam. Theo nghiên cứu này, sáng nghiệp công ty, vốn xã hội, năng lực doanh nhân tác động dương đến thành quả của DNNVV. Tác giả Hoàng La Phương Hiền (2019) 2 đã nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm và năng lực kinh doanh của doanh nhân đến HĐKD của các DN trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế và nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình được xây dựng bởi Man (2001) về năng lực doanh nhân, kết quả HĐKD được đo lường thông qua chỉ tiêu tài chính, khách hàng, nội bộ và học tập – phát triển. Gần đây nhất, nghiên cứu của Sakib, M.N và cộng sự (2022), Yunusa Mohammed Kaigama (2023) kết quả chỉ ra rằng năng lực kinh doanh ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và các nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của năng lực kinh doanh đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về thành phần năng lực doanh nhân ở Việt Nam còn hạn chế, do vậy cần có một đề tài nghiên cứu để chỉ ra rõ tác động của năng lực doanh nhân đến KQKD của DN Việt Nam trong từng ngành cụ thể.2 Bối cảnh thực tiễn Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, ngành du lịch nước ta đã có bước phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng. Đội ngũ doanh nghiệp kinh doanh du lịch, lữ hành, CSLT ngày càng lớn mạnh; Hạ tầng du lịch được Nhà nước, xã hội quan tâm đầu tư và Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn trên thế giới. Du lịch góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, quảng bá hình ảnh và khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ du lịch quốc tế. Nhiều năm liền, số lượng khách trong nước và quốc tế tăng mạnh, có năm du khách nước ngoài đến Việt Nam đạt hơn 18 triệu người, tương đương nhiều quốc gia có du lịch phát triển ở Đông Nam Á, chiếm 80% lượng khách hàng không quốc tế ra vào Việt Nam.

Ngành Du lịch đã đóng góp ước tính 9,2% tổng sản phẩm trong nước, tạo công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho gần 5 triệu người trong các lĩnh vực phụ trợ của du lịch và liên ngành. Khách du lịch quốc tế, trong nước và doanh thu từ du lịch liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của đất nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, doanh thu ngành du lịch năm 2022 đạt 93.242,7 tỉ đồng tăng hơn 185,2% so với năm 2021. Năm 2022 đánh dấu sự trở lại của ngành du lịch sau đại dịch Covid-19, số lượng khách quốc tế đến nước ta ước đạt 3.661,2 nghìn lượt người gấp 23,3 lần năm trước.

Trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.277,2 nghìn lượt người chiếm 89,5% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và gấp 29,5 lần; bằng đường bộ đạt 380,9 nghìn lượt người chiếm 10,4% 3 và gấp 4 lần; bằng đường thủy đạt 3,1 nghìn lượt người chiếm 0,1% và gấp 5 lần. Khách quốc tế đến Việt Nam từ châu Á đạt 2.595,8 nghìn lượt người gấp 19,5 lần năm trước; khách đến từ châu Âu đạt 508,4 nghìn lượt người gấp 31,8 lần; khách đến từ châu Mỹ đạt 388,9 nghìn lượt người gấp 67,6 lần; khách đến từ châu Úc đạt 156,6 nghìn lượt người gấp 125,2 lần; khách đến từ châu Phi đạt 11,5 nghìn lượt người gấp 8 lần. Số lượng khách du lịch nội địa và quốc tế tăng nhanh đã góp phần tăng doanh thu cho các CSLT và lữ hành. Doanh thu của các CSLT năm 2022 đạt 57,8 nghìn tỷ đồng, gấp 2,4 lần năm 2021 và doanh thu của các cơ sở lữ hành đạt 35,5 nghìn tỷ đồng, gấp 3,9 lần.

Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI đánh giá: “Du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Với mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch, đưa ra những giải pháp tháo gỡ hạn chế, yếu kém”; Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định: “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác”. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 103/NQ-CP triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW đến các cấp, các ngành, doanh nghiệp và phấn đấu đến năm 2030, du lịch Việt Nam thực sự là ngành kinh tế trọng tâm, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội. Theo Darbellay và Stock (2012), Gren và Huijbens (2012), du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng với tầm quan trọng kinh tế - xã hội đã được chứng minh.

Du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia do có những đóng góp to lớn về kinh tế - xã hội. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, du lịch có thể đóng vai trò quan trọng trong kinh tế, thực hiện xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tiến bộ xã hội (Blanke và Chiesa, 2011). ĐBSCL là đồng bằng phù sa lớn nhất nước do hệ thống sông Cửu Long bồi đắp là một trong những địa điểm yêu thích đối với khách du lịch trong và ngoài nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ