Chương 1 bao gồm các phần chính: Sự cần thiết của nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận án và bố cục của luận án. Qua đó, tác giả mô tả các vấn đề được trình bày trong luận án, giúp người đọc nắm được quy trình nghiên cứu tương ứng.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1.1 Tiếp cận lý thuyết “Mỗi quốc gia luôn có cơ hội để vươn lên thịnh vượng dù kém về tài nguyên, nguồn lực lao động hay vốn liếng, miễn sao doanh nghiệp của quốc gia đó phải có được sức mạnh” (Porter. Vì thế việc nâng cao hiệu suất cũng như kết quả kinh doanh cho các doanh nghiệp của một quốc gia hay một vùng là yếu tố hết sức cần thiết góp phần tạo sự phồn thịnh cho quốc gia hay vùng đó. Vấn đề được quan tâm khá nhiều hiện nay là nâng cao hiệu suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì “họ có đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cải thiện phân phối thu nhập” (Abdullah & Manan, 2011).
Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì các nước đều chú ý hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy động tối đa các nguồn lực, góp phần tăng sức cạnh tranh cho những doanh nghiệp này. Nghiên cứu về doanh nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới thực hiện, trong đó có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nhân và năng lực doanh nhân có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng. Năng lực doanh nhân được coi là khía cạnh quan trọng nhất cho sự phát triển và thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào (Mitchelmore & Rowley, 2010). Năng lực kinh doanh của doanh nhân có liên quan đến sự ra đời, tồn tại, phát triển và thành công của một doanh nghiệp (Bird,1995; Baum và cộng sự, 2001; Colombo & Grilli, 2005).
“Năng lực doanh nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao kết quả kinh doanh của công ty, có tác dụng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động công ty” (José Sánchez, 2011). Do đó, doanh nhân được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng (Roblesa, L., Zárraga-Rodrígueza, M. 1 Man (2001) đã khám phá lĩnh vực năng lực doanh nhân và kết nối nó với hoạt động của tổ chức trong lĩnh vực dịch vụ của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hồng Kông, liên hệ những năng lực kinh doanh này với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh ngành dịch vụ của Hồng Kông. Ahmad (2007) đã mở rộng lĩnh vực năng lực do Man (2001) cung cấp và liên hệ những lĩnh vực này với hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Úc và quan điểm đa văn hóa của Malaysia.
Nhiều nghiên cứu đã cố gắng phác họa mối quan hệ giữa năng lực doanh nhân và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Mitchelmore & Rowley, 2010; Bird, 1995; Baum và cộng sự, 2001; Colombo & Grilli, 2005; Ahmad, 2007 và Man, 2001). Các nghiên cứu trước đây chỉ ra mười lĩnh vực năng lực cụ thể của các doanh nhân như: năng lực chiến lược, năng lực phân tích, năng lực tổ chức và lãnh đạo, năng lực cam kết, năng lực cơ hội, năng lực cá nhân, năng lực học tập, năng lực đạo đức, năng lực mối quan hệ và năng lực kỹ thuật. Do đó, có đủ lý do để tin rằng có mối quan hệ giữa mười lĩnh vực năng lực cụ thể và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Man, 2001; Ahmad, 2007; Baum và cộng sự, 2001; Man & Chan, 2002; Ahmad và cộng sự, 2010). Hơn nữa, Man và cộng sự (2002) đã phát triển một mô hình phân tích liên quan đến hiệu suất công ty với năng lực kinh doanh, năng lực tổ chức và phạm vi cạnh tranh của công ty.
Theo năng lực kinh doanh, họ đã đề cập đến sáu lĩnh vực năng lực có tên là năng lực cơ hội, năng lực mối quan hệ, năng lực phân tích, năng lực tổ chức, năng lực chiến lược và năng lực cam kết. Tương tự, Chandler & Jansen (1992) chỉ ra sự liên quan đến vai trò doanh nhân, vai trò quản lý và vai trò chức năng kỹ thuật với hoạt động kinh doanh trong bối cảnh phân tích của Bang Utah về các công ty kinh doanh. Li và cộng sự (2009) khẳng định mối quan hệ tích cực của doanh nghiệp (chấp nhận rủi ro, đổi mới, năng nổ, cạnh tranh, chủ động và tự chủ) với hiệu suất của công ty và cho rằng quá trình sáng tạo tri thức đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này. Họ liên hệ trực tiếp định hướng kinh doanh với hiệu quả hoạt động của công ty trong mô hình của họ với một biến trung gian của quá trình tạo ra tri thức.
Nguyễn Thành Long (2016) còn đưa ra vai trò của năng lực doanh nhân, sáng nghiệp công ty và vốn xã hội đối với KQKD của DNNVV ở Việt Nam. Theo nghiên cứu này, sáng nghiệp công ty, vốn xã hội, năng lực doanh nhân tác động dương đến thành quả của DNNVV. Tác giả Hoàng La Phương Hiền (2019) 2 đã nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm và năng lực kinh doanh của doanh nhân đến HĐKD của các DN trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế và nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình được xây dựng bởi Man (2001) về năng lực doanh nhân, kết quả HĐKD được đo lường thông qua chỉ tiêu tài chính, khách hàng, nội bộ và học tập – phát triển. Gần đây nhất, nghiên cứu của Sakib, M.N và cộng sự (2022), Yunusa Mohammed Kaigama (2023) kết quả chỉ ra rằng năng lực kinh doanh ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và các nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của năng lực kinh doanh đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về thành phần năng lực doanh nhân ở Việt Nam còn hạn chế, do vậy cần có một đề tài nghiên cứu để chỉ ra rõ tác động của năng lực doanh nhân đến KQKD của DN Việt Nam trong từng ngành cụ thể.2 Bối cảnh thực tiễn Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, ngành du lịch nước ta đã có bước phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng. Đội ngũ doanh nghiệp kinh doanh du lịch, lữ hành, CSLT ngày càng lớn mạnh; Hạ tầng du lịch được Nhà nước, xã hội quan tâm đầu tư và Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn trên thế giới. Du lịch góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, quảng bá hình ảnh và khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ du lịch quốc tế. Nhiều năm liền, số lượng khách trong nước và quốc tế tăng mạnh, có năm du khách nước ngoài đến Việt Nam đạt hơn 18 triệu người, tương đương nhiều quốc gia có du lịch phát triển ở Đông Nam Á, chiếm 80% lượng khách hàng không quốc tế ra vào Việt Nam.
Ngành Du lịch đã đóng góp ước tính 9,2% tổng sản phẩm trong nước, tạo công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho gần 5 triệu người trong các lĩnh vực phụ trợ của du lịch và liên ngành. Khách du lịch quốc tế, trong nước và doanh thu từ du lịch liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của đất nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, doanh thu ngành du lịch năm 2022 đạt 93.242,7 tỉ đồng tăng hơn 185,2% so với năm 2021. Năm 2022 đánh dấu sự trở lại của ngành du lịch sau đại dịch Covid-19, số lượng khách quốc tế đến nước ta ước đạt 3.661,2 nghìn lượt người gấp 23,3 lần năm trước.
Trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.277,2 nghìn lượt người chiếm 89,5% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và gấp 29,5 lần; bằng đường bộ đạt 380,9 nghìn lượt người chiếm 10,4% 3 và gấp 4 lần; bằng đường thủy đạt 3,1 nghìn lượt người chiếm 0,1% và gấp 5 lần. Khách quốc tế đến Việt Nam từ châu Á đạt 2.595,8 nghìn lượt người gấp 19,5 lần năm trước; khách đến từ châu Âu đạt 508,4 nghìn lượt người gấp 31,8 lần; khách đến từ châu Mỹ đạt 388,9 nghìn lượt người gấp 67,6 lần; khách đến từ châu Úc đạt 156,6 nghìn lượt người gấp 125,2 lần; khách đến từ châu Phi đạt 11,5 nghìn lượt người gấp 8 lần. Số lượng khách du lịch nội địa và quốc tế tăng nhanh đã góp phần tăng doanh thu cho các CSLT và lữ hành. Doanh thu của các CSLT năm 2022 đạt 57,8 nghìn tỷ đồng, gấp 2,4 lần năm 2021 và doanh thu của các cơ sở lữ hành đạt 35,5 nghìn tỷ đồng, gấp 3,9 lần.
Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI đánh giá: “Du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Với mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch, đưa ra những giải pháp tháo gỡ hạn chế, yếu kém”; Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định: “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác”. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 103/NQ-CP triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW đến các cấp, các ngành, doanh nghiệp và phấn đấu đến năm 2030, du lịch Việt Nam thực sự là ngành kinh tế trọng tâm, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội. Theo Darbellay và Stock (2012), Gren và Huijbens (2012), du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng với tầm quan trọng kinh tế - xã hội đã được chứng minh.
Du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia do có những đóng góp to lớn về kinh tế - xã hội. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, du lịch có thể đóng vai trò quan trọng trong kinh tế, thực hiện xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tiến bộ xã hội (Blanke và Chiesa, 2011). ĐBSCL là đồng bằng phù sa lớn nhất nước do hệ thống sông Cửu Long bồi đắp là một trong những địa điểm yêu thích đối với khách du lịch trong và ngoài nước.