Chương 1: Cơ sở lý thuyết về khoảng cách văn hoá và lựa chọn ngân hàng đại lý trong hoạt động ngân hàng quốc tế. Chương 2: Thực trạng tác động của khoảng cách văn hoá tới sự lựa chọn ngân hàng đại lý trong hoạt động ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý của ngân hàng thương mại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHOẢNG CÁCH CÁCH VĂN HOÁ VÀ LỰA CHỌN NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ 1.
Khái niệm khoảng cách văn hóa Văn hóa được các học giả đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của một quốc gia (Kalberg và Weber, 2002). Định nghĩa này có sự trái ngược với góc nhìn của Karl Marx, khi ông cho rằng sự phát triển của nền kinh tế sẽ quyết định được mức độ văn hóa của dân tộc đó (Gorodnichenko và Roland, 2017). Tuy nhiên, có thể thấy, dù có góc nhìn trái ngược về tác động qua lại của văn hóa đối với sự phát triển của nền kinh tế, thì cả hai trường phái đều cho rằng văn hóa là một trong những yếu tố thể hiện và giải thích cho sự phát triển về nền kinh tế của một quốc gia hay một dân tộc. Theo Gorodnichenko và Roland (2017), văn hóa được định nghĩa là “một tập hợp các giá trị và niềm tin về cách thức mà thế giới vận hành, cùng các chuẩn mực hành vi được xuất phát từ tập giá trị đó”.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization – UNESCO) cũng cho rằng văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng tiêu biểu của một nhóm người trong xã hội, hoặc của cả một xã hội về tinh thần, vật chất, giá trị, tri thức và xúc cảm. Theo đó, văn hóa không chỉ bao gồm những giá trị văn học hay giá trị nghệ thuật, mà văn hóa của một xã hội còn thể hiện phong cách sống, quan niệm sống, suy nghĩ truyền thông, các hệ giá trị mà xã hội đó tin tưởng (UNESCO, 2001; UNESCO, 2009). Có thể thấy, hai định nghĩa này đều có những điểm tương đồng khi cho rằng văn hóa được hình thành từ một nhóm người trong xã hội, hay rộng hơn, là từ một xã hội, dựa vào những giá trị mà xã hội đó tin tưởng và thực hành trong đời sống hàng ngày. Theo UNESCO (2009), văn hóa có những ảnh hưởng to lớn đến phát triển kinh tế của một quốc gia.
Theo đó, văn hóa có thể được coi là một tài sản cộng đồng, có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế bền vững của một quốc gia thông qua các hoạt động văn hóa như phim ảnh, âm nhạc, và du lịch. Bên cạnh đó, 8 văn hóa có thể góp phần định hình hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp hộ gia đình, sao cho phù hợp với hệ giá trị của địa phương đó. Đồng tình với kết luận của UNESCO (2009) nhiều học giả cũng cho rằng văn hóa có tác động lớn đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung (Malai và Speece, 2005; Jones và Alony, 2007; Andreassi và cộng sự, 2014) và hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng (Lodhi và cộng sự, 2005; Warter và Warter, 2015; Picoto và Pinto, 2021). Từ định nghĩa của văn hóa, có thể thấy rằng do văn hóa được hình thành từ một nhóm người trong xã hội, hoặc từ một xã hội, nên văn hóa của các xã hội, các quốc gia khác nhau sẽ khác nhau.
Vì vậy, để có thể đo lường tác động của văn hóa tới các yếu tố kinh tế, xã hội, các nhà học giả thường sử dụng khái niệm “khoảng cách văn hóa”. Mặc dù khoảng cách văn hóa (Cultural distance) và khoảng cách tâm linh (Psychic distance) thường được các học giả sử dụng như hai khái niệm có thể thay thế lẫn nhau, nhưng chúng tồn tại nhiều điểm khác biệt (Sousa và Bradley, 2006; Avloniti và Filippaios, 2014). Theo đó, khoảng cách văn hóa đề cập đến sự khác biệt về văn hóa của hai quốc gia, hoặc thể chế kinh tế, chính trị tại hai quốc gia khác nhau. Trong khi đó, khoảng cách tâm linh lại đề cập đến sự khác biệt trong cách nhận thức về thế giới của từng cá nhân riêng lẻ.
Trong nghiên cứu này, khái niệm khoảng cách văn hóa được tổng hợp bởi Kaasa và cộng sự (2016) từ nhiều học giả khác được sử dụng do nó thể hiện tính bao quát, thống nhất của các học giả về định nghĩa của khoảng cách văn hóa. Cụ thể: Khoảng cách văn hóa được định nghĩa là mức độ mà các chuẩn mực và/hoặc giá trị văn hóa được chia sẻ ở một quốc gia với một quốc gia khác. Theo định nghĩa này, khoảng cách văn hóa được hiểu là sự khác biệt về văn hóa tại hai quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau. Khoảng cách văn hóa được xây dựng từ văn hóa của hai hoặc nhiều quốc gia.
Do đó, khoảng cách văn hóa có những đặc điểm giống với văn hóa. Theo tổng hợp của Roland (2004), văn hóa hay khoảng cách văn hóa có các đặc điểm sau: 9 Thứ nhất, văn hóa của từng quốc gia thay đổi chậm hơn các yếu tố về kinh tế và chính trị. Do vậy, khoảng cách văn hóa của hai quốc gia khác nhau cũng sẽ thay đổi chậm hơn so với các yếu tố kinh tế, chính trị khác. Thứ hai, khoảng cách văn hóa không chỉ dùng để đo lường sự khác biệt văn hóa ở tầm quốc gia, mà còn là sự đo lường cho sự khác biệt về nhận thức văn hóa của từng cá nhân.
Thật vậy, văn hóa của từng quốc gia là khác nhau. Nói cách khác, sự nhận định về thế giới của hai cá nhân ở hai quốc gia là khác nhau. Như vậy, mặc dù khoảng cách văn hóa diễn tả sự khác biệt về văn hóa tại hai quốc gia, vùng lãnh thổ, nhưng lại là tác nhân quan trọng tác động đến suy nghĩ, nhìn nhận cá thể của hai cá nhân tại hai quốc gia đó. Khi khoảng cách văn hóa càng lớn, thì hai cá nhân đó sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá về thế giới khác nhau.
Đo lường khoảng cách văn hóa Để đánh giá tác động của văn hóa, UNESCO (2009) đã sử dụng thống kê văn hóa để đo lường phương diện kinh tế của văn hóa. Theo đó, UNESCO (2009) phân loại văn hóa thành các ngành nghề và sử dụng các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để đo lường đóng góp kinh tế của các hoạt động văn hóa. Tham gia thực hiện các hoạt động văn hóa là các hoạt động nằm trong các lĩnh vực văn hóa, được UNESCO (2009) phân chia thành 7 nhóm hoạt động, bao gồm: - A: Di sản văn hóa và thiên nhiên - B: Biểu diễn và kỷ niệm - C: Nghệ thuật thị giác và nghề thủ công - D: Sách báo và ấn phẩm - E: Phương tiện nghe nhìn và phương tiện truyền thông tương tác - F: Dịch vụ thiết kế và sáng tạo Bên cạnh đó, UNESCO (2009) còn cho rằng các hoạt động văn hóa còn thể hiện ở hai lĩnh vực liên đới (Nhóm G), bao gồm Du lịch và Thể thao và Giải trí (Hình 1. Dựa vào các lĩnh vực văn hóa này, UNESCO (2009) đề xuất rằng các quốc gia có thể thu thập số liệu kinh tế từ các hoạt động trong từng lĩnh vực, từ đó 10 đưa ra kết luận về tác động kinh tế của văn hóa đối với quốc gia đó.
Tuy nhiên, cách làm này đòi hỏi các quốc gia cần tuân thủ chặt chẽ các quy định phân loại ngành nghề, ví dụ như Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại ngành ISIC 4, hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu CPC 2, hoặc Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa 2007 HS 200. Do đó, việc dựa vào hoạt động văn hóa theo lĩnh vực văn hóa để so sánh về tác động của văn hóa đến với nhiều nền kinh tế cần nhiều nguồn lực để thu thập số liệu thống kê. Vì vậy, cách đo lường này không phù hợp với mục đích nghiên cứu của Khóa luận.1: Lĩnh vực văn hoá được phân loại bởi UNESCO Nguồn: Khung thống kê văn hóa (UNESCO, 2009) Do không thể đo lường trực tiếp tác động của văn hóa, việc đo lường khoảng cách văn hóa đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả. Việc đo lường khoảng cách văn hóa sẽ giúp cho các học giả lượng hóa được sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia.
Hầu hết các học giả đều sử dụng thang đo Hofstede về văn hóa để làm căn cứ cho nghiên cứu của mình (Wu, 2006; Jones và Alony, 2007; Hofstede, 2009, 2011). Theo đó, Trọng và Dũng (2012) cho rằng thang đo Hofstede 11 là thang đo phù hợp để đo lường văn hóa không chỉ ở cấp độ quốc gia, mà còn ở cấp độ nhóm xã hội, và cấp độ cá nhân. Lần đầu được phát biểu trong nghiên cứu của Hofstede và cộng sự (1991), thông qua nhiều năm hoàn thiện và phát triển, lý thuyết của Hofstede cho rằng văn hóa sẽ được chia ra thành nhiều chiều văn hóa (Cultural dimensions) đã được lượng hóa. Các nghiên cứu sử dụng thang đo Hofstede tại Việt Nam đang không thống nhất trong cách dịch thuật về khái niệm cultural dimensions.
Trọng và Dũng (2012) cho rằng cultural dimension có thể dịch là khía cạnh văn hóa. Tuy nhiên, Phúc và Trọng (2014) lại phát biểu rằng dimension nên được dịch là khái niệm. Hương và Hòa (2016) lại sử dụng từ “thành phần văn hóa” cho nghiên cứu của mình. Trong nghiên cứu của mình, Thu (2015) sử dụng song song cả khía cạnh và chiều văn hóa để minh họa cho các cultural dimension được phát biểu bởi Hofstede và cộng sự (1991).
Do có sự không đồng nhất trong việc dịch thuật, khóa luận sẽ sử dụng từ chiều văn hóa để thể hiện các cultural dimension theo thang đo Hofstede. Cho đến nay, thông qua quá trình hình thành và hoàn thiện lý thuyết, Hofstede đã tổng hợp được 6 chiều văn hóa. Các chiều văn hóa này sẽ được chia thành các cặp nhằm tương ứng với các điểm số của một chiều văn hóa. Chiều văn hóa được chấm điểm từ 0 đến 100, thể hiện tương ứng như sau: Hình 1.2: Điểm số của các chiều văn hóa Nguồn: https://spiderum.com/ 12 Khoảng cách quyền lực (Power distance): Là nhận thức của những thành viên không có quyền lực trong xã hội, hoặc trong gia đình, chấp nhận việc quyền lực giữa các cá thể trong quyền lực của xã hội được phân bổ không công bằng.