phần Mở đầu, Mục lục, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cau chính Luận văn gồm 2 chương, 6 Tiết. KHÁI QUÁT CHUNG VE GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG KHÓA TU MÙA HE CUA PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Giáo dục đạo đức Đề phân tích khái niệm nay, chung ta phân tích nội hàm hai khái nệm giáo dục và đạo đức: Trước tiên về khái niệm giáo dục: Theo Từ điền Bách Khoa Việt Nam, Giáo dục là "Quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thê thiếu được và không bao giờ mat đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc day xã hội phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp tổ chức giáo dục biến đôi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội" [10, tr.
Theo Hòa thượng Thích Nhật Quang “Giáo dục và đàoòa tạo Phật giáo là con đường thu học thông qua Giới (Sila), Định (Samadi) và Tuệ (Panna) là sự hoàn thiện hay giải thoát của con người trên cơ sở đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của mỗi cá nhân” [1, tr.29] Khái niệm Đạo đức: 11 Là hệ thống các qui tắc, chuân mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của minh cho phù hợp với lợi ích cộng đồng và xã hội. Dưới góc độ Phật giáo: Giáo dục đạo đức có thể hiểu là quá trình: “sự thể hiện truyền thụ nhân cách đạo đức từ người có kiến thức và mẫu mực trong đời sông, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến người thọ giáo, tất nhiên là phải thông qua thân giáo, khẩu giáo và ý giáo. Cụ thể của hành vi đó là sự truyền trao tri thức, kinh nghiệm sống, nhân cách đạo đức từ người thầy đến học trò, giúp người học được trang bị kiến thức và hoản thiện nhân cách nâng cao đời sống đạo đức” [25, tr. Phật tử Đức Phật dạy trong Kinh Trung Bộ rằng: “Ai nguyện nương tựa Phật Pháp Tăng người ấy là người Phật tử”, chữ “Nguyện” trong Đạo Phật mang tính tự giác, là một thái độ nhận ra chân lý và ước muốn thực hiện chân lý trong đời sống của mình.
Điều này, tương tự như định hướng cho mình một lý tưởng sống và được thé hiện qua một hình thức nghi lễ như lễ phát nguyện thọ giới, phát nguyện quy y Tam Bảo. Tác giả Thích Viên Giác trong một bài viết của mình: Ai là Phật tử? đăng trên trang điện tử Đạo Phật ngày nay: “Phật tử bao gồm nhiều thành phần: Một là, những Phật tử thuần thành thường xuyên đi chùa có quy y Tam bảo, có pháp danh, có tham dự sinh hoạt Phật sự, có tu có học giáo lý. Dĩ nhiên hạng này có danh sách lưu trữ tại chùa. Hai là, Phật tử có quy y Tam bảo có pháp danh, nhưng ít di chùa va không gắn bó với các sinh hoạt của chùa, họ đi chùa theo cảm hứng tùy duyên.
Hạng này có thể có danh sách lưu trữ hoặc bị thất lạc tên tuổi. 12 Ba là, Phật tử chưa quy y Tam bảo, chưa có pháp danh nhưng vẫn thực hiện các nghĩa vụ của một người Phật tử khi cần thiết như đóng góp xây dựng chùa, tham dự những ngày lễ lớn. Bốn là, Phật tử là người có thiện cảm và thực hành đạo lý của Phật nhưng không có mối quan hệ sinh hoạt với chùa chiền. Thành phần này hoàn toàn không có tên tudi gì hết ở trong số bộ của chùa.
Năm là, Phật tử là những người theo truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên, thường gọi là Đạo Lương(?) Thành phần này sống và sinh hoạt trên nền táng truyền thống văn hóa dân tộc, trong đó văn hóa Phật giáo là chủ đạo nên đời sống của họ rất thân thiện và gần gủi với chùa chiền như là một người Phật tử, nhất là vùng nông thôn” [Xem 26]. Với cách hiểu Phật tử như trên cho thấy nội hàm của khái niệm này khá rộng. Trong nghiên cứu này tác giả đồng tình với quan niệm của tác giả Thích Viên Giác. Bởi hoạt động khóa tu mùa hè của Phật giáo hướng đến nhóm đối tượng khá mở rộng (sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau).
Chính vì vậy sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với vấn dé giáo dục đạo đức cũng hướng đến nhóm đối tượng khá mở rộng. Khái niệm Khóa tu mùa hè Thực chất hiện nay chưa có khái niệm khóa tu mùa hè, bởi đây được hiểu là một hoạt động của Phật giáo. Khóa tu có thé hiểu là hoạt động thực tập theo lời Phật day trong một thời gian nhất định, nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Mỗi khóa thường diễn ra trong một thời gian nhất định.
Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra khái niệm khóa tu mùa hè là hoạt động thực tập, thực hành theo lời Phật dạy trong một thời gian nhất định, thường được tổ chức vào mùa hè, hướng đến đối tượng người trẻ là những thanh thiếu niên. Khái quát chung về giáo dục đạo đức Phật giáo 1. Mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức Phật giáo Đạo đức Phật giáo được hình thành trên nền tảng sự kết tỉnh truyền thống đạo đức Án Độ cô đặc sắc. Trong đó các phạm trù cơ bản như nghiệp báo, nhân - quả, thiện - ác, đúng - sai, tốt - xấu,.
Phật giáo đã kế thừa chọn lọc và phát triển, xây dựng thành một hệ thống học thuyết đạo đức mới. Đạo đức Phật giáo xoay quanh vấn đề khô và con đường thoát khổ. Nội dung đó được thé hiện sâu sắc trong thuyết Tứ Diệu dé - được coi là nền tảng của giáo lý, là cốt tuỷ của giáo pháp Phật giáo, bao gồm: Khổ đé, Tập đé, Diệt để, Dao dé. Tư tưởng đạo đức của Phật giáo thể hiện tập trung nhất trong Đạo dé.
Đạo dé là chân lý nói về con đường tu tập phải theo. Phật giáo chủ trương lấy trí tuệ diệt trừ vô minh - cội nguồn của khổ đau, vừa thực hành tu tập điệt trừ tham duc dé đạt đến sự giải thoát. Trong đó đáng chú ý là Bát chính dao và Tam học Bát chính đạo: tám con đường tu hành chân chính: + Chính ngữ: Lời nói thanh tịnh, thăng thắn, không nói điều sai trái + Chính nghiệp: hành động chân chính, có lợi cho nhân sinh để thân nghiệp thanh tịnh + Chính tỉnh tiến: tiến tới trong con đường tu hành, bỏ ác, làm thiện. + Chính mệnh: Sống bằng nghề nghiệp chân chính dé tam nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) trong sạch.
+ Chính niệm: luôn nghĩ về chính pháp, gạt bỏ những suy nghĩ sai lầm, những hành động bất chính. + Chính định: giữ cho thân tâm vắng lặng, không vọng động để trí tuệ bừng sáng. + Chính tri kiến: quan niệm chân chính về đạo, nhất là lý thuyết Tứ diệu đê, có niêm tin vào sự giải thoát. 14 + Chính tư duy: Suy nghĩ chân chính đề lìa bỏ tham dục.
Tam học: Giới - Định - Tuệ: + Giới: những điều ngăn cắm, quy định giúp người tu hành không phạm những lỗi lầm do thân, khẩu, ý tạo ra. + Định: phương pháp giúp cho người tu hành không tán loạn thân tâm, nhờ đó mà loại trừ những ý nghĩ xấu, tư tưởng xấu, tạo điều kiện cho trí tuệ phát sáng. + Tuệ: là người tu hành có trí tuệ sáng suốt đã diệt trừ được vô minh, tham dục, chứng ngộ được chân lý Phật, do đó chỉ nghĩ làm điều thiện, mưu lợi ích cho chúng sinh. “Tu dưỡng hành vi đạo đức trong Phật giáo được hiéu là các bước thực hành giới luật.
Pratimoksa trong Sanskrit hay Patimokkba trong Pali có nghĩa là “Biệt giải thoát”, tức là giữ giới nhiều thì giải thoát nhiều, giữ giới ít thì giải thoát ít. Giới (Sila) có gốc từ “Sil”, với nghĩa là luân lý, đạo đức, cách cư xử, hành vi đạo đức với tinh thần căn bản là làm lành, lánh ác, từ bi, hy xả. Giới luật Phật giáo và các quy phạm dao đức khá cụ thé và tỉ mi. Đó là ngũ giới luôn phải giữ, Thập thiện luôn phải hành, Lục độ vạn hạnh không ngừng phải tu” [19, tr.356] Mục đích giáo dục của Phật giáo: là nhằm vào con người, vì con người là trung tâm của thế giới.
Toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo đều nhằm mục đích thoát con người, chuyên hóa người xấu thành người tốt bằng con đường tu dưỡng, rén luyện nhân tâm. Giáo dục -cua đức Phật là nền giáo dục chuyên hóa cá nhân và xã hội trên cơ sở tự lực của mỗi người. “Về mặt tư tưởng và triết lý thì mục đích giáo dục của Phật giáo là nhăm giúp con người đạt đến cứu cánh giác ngộ giải thoát. Còn về mặt giáo dục đạo đức xã hội thì Phật giáo luôn quan tâm đến đời sống nhân loại, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách sống, bao gồm đạo đức và trí tuệ, thông qua đó thế giới giảm bớt 15 chiến tranh đau khô, tiến đến một thế giới hòa bình hạnh phúc; nền giáo dục Phật giáo còn giúp con người cải thiện hệ sinh thái môi trường nhờ nuôi dưỡng lòng từ bi và nhận thức lý duyên sinh một cách sâu sắc, khi con người được sống trong một tâm thái thoải mái an vui hạnh phúc, nhân đó tùy theo nhân duyên của từng hoàn cảnh, họ có thé hướng đến nắc thang cao hơn, đó là hành trình dan thân vào sự nghiệp tu hành giải thoát” [25, tr.
Đối tượng giáo dục của Phật giáo rất rộng mở, không chỉ khuôn phép là những người tín đồ của Phật giáo mà còn mở rộng với tất cả mọi người. Với tinh than từ bi vô lượng, Đức Phật chủ trương đưa giáo thuyết và những luân lý đạo đức tốt đẹp đến với tất cả mọi người, thức tỉnh tất cả chúng sinh. “Đối tượng giáo dục Phật giáo là từng cá nhân hay tập thể, nói chung là tất cả mọi người không phân biệt giới tính, giai cấp, tuôi tác.