Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tác động của hoạt động thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (Khoa Kinh tế Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, năm 2005) được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bước sang thế kỷ 21 với những thành tựu sau gần 20 năm thực hiện đường lối Đổi Mới (từ năm 1986).
Theo số liệu được tác giả dẫn giải, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam thời kỳ 1990-1999 đạt 8,1%, cao gấp 3 lần mức tăng trưởng bình quân của kinh tế thế giới, vượt qua các nước NICs châu Á (Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc) và chỉ đứng sau Trung Quốc. Đồng thời, đánh giá của Ngân hàng Thế giới (năm 2001) ghi nhận xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam tăng trưởng bình quân 28%/năm trong giai đoạn 1990-2000. Hoạt động thương mại, đặc biệt là ngoại thương, đã trở thành động lực quan trọng gắn kết thị trường nội địa với thị trường quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đề tài xác định rõ các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của hoạt động thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đánh giá toàn diện thực trạng tác động của hoạt động thương mại đối với các lĩnh vực kinh tế trọng yếu: sản xuất, tiêu dùng xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nhận diện cả tác động tích cực lẫn các hệ quả tiêu cực nảy sinh từ quá trình mở cửa thương mại đối với sản xuất nội địa.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng chính sách nhằm tăng cường vai trò tích cực, hạn chế tiêu cực của thương mại trong giai đoạn 2005-2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của hoạt động thương mại đối với các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Việt Nam (sản xuất, tiêu dùng, đầu tư nước ngoài và hội nhập quốc tế).
- Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam trong mối quan hệ giao thương song phương và đa phương với các đối tác thương mại trên thế giới (221 quốc gia và vùng lãnh thổ).
- Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực tiễn giai đoạn Đổi Mới từ năm 1986 đến năm 2004, một số số liệu cập nhật đến đầu năm 2005 và định hướng giải pháp cho giai đoạn 2005-2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng pháp lý thương mại, lý thuyết kinh tế phát triển và các mô hình thương mại quốc tế:
Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết
- Cơ sở pháp lý thương mại: Phân tích sự chuyển biến giữa Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 và Luật Thương mại sửa đổi năm 2005. Tác giả chỉ ra rằng Luật Thương mại 1997 quy định phạm vi hẹp với 14 hành vi thương mại cụ thể và giới hạn tư cách thương nhân theo tiêu chí đăng ký kinh doanh. Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 đã mở rộng khái niệm hoạt động thương mại (bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, logistics, nhượng quyền thương mại) và mở rộng tư cách thương nhân dựa trên bản chất hoạt động nghề nghiệp thường xuyên, liên tục.
- Lý thuyết thương mại quốc tế: Ứng dụng lý thuyết lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế, lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế (Product Life Cycle Theory) để giải thích quá trình các nước đang phát triển tiếp nhận công nghệ, mô phỏng sản xuất và gia tăng xuất khẩu sang các nước phát triển.
- Mối quan hệ giữa thương mại, tích lũy vốn và công nghệ: Phân tích kinh nghiệm tích lũy vốn đầu tư từ các nền kinh tế Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan với tỷ lệ vốn nước ngoài chiếm 30-40% tổng đầu tư ban đầu so với Ấn Độ, Trung Quốc chỉ khoảng 10%).
| Tiêu chí so sánh |
Luật Thương mại năm 1997 |
Luật Thương mại sửa đổi năm 2005 |
| Phạm vi điều chỉnh |
Phạm vi hẹp, giới hạn trong mua bán hàng hóa và 14 hành vi thương mại cụ thể |
Mở rộng gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lời khác (Logistics, nhượng quyền...) |
| Xác định thương nhân |
Dựa trên tiêu chí đăng ký kinh doanh hợp pháp |
Mở rộng theo bản chất: cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, liên tục dù chưa đăng ký kinh doanh |
| Khái niệm hàng hóa |
Động sản lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh cho thuê, mua, bán |
Tất cả các loại động sản (kể cả động sản hình thành trong tương lai) và những vật gắn liền với đất đai |
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử); phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu đã công bố.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và ấn phẩm nghiên cứu uy tín:
- Báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Tờ trình số 35/CP-XDPL ngày 31/03/2005 của Chính phủ).
- Báo cáo và số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2001).
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: "Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" do Bộ Thương mại và Trường Đại học Ngoại thương phối hợp tổ chức (11/2003).
- Các ấn phẩm thống kê chuyên ngành: Đặc san Thời báo Kinh tế Việt Nam (giai đoạn 2003-2004 và 2004-2005), Thời báo Kinh tế Sài Gòn (2005).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận về vai trò của thương mại trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua
Chương I tập trung làm rõ bản chất lý luận, chức năng và các nhiệm vụ trọng tâm của ngành thương mại:
- Chức năng cơ bản của thương mại: Tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế; tạo nguồn vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng; chuyển hóa giá trị sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và tích lũy; tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và gắn kết hữu cơ thị trường trong nước với thị trường thế giới.
- Căn cứ xác định nhiệm vụ thương mại: Bắt nguồn từ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 (đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp); đặc điểm chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất hàng hóa lớn; bối cảnh quốc tế với sự mở rộng của Liên minh châu Âu (EU) lên 25 thành viên (sức mua 9.200 tỷ Euro, 455 triệu dân) và sự trỗi dậy của thị trường Trung Quốc (GDP 1.000 tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 500 tỷ USD).
- Các nhiệm vụ kinh tế - xã hội cốt lõi:
- Giải quyết bài toán tích lũy vốn: Tỷ lệ tích lũy tài sản - đầu tư của Việt Nam tăng dần qua các năm (năm 2000 đạt 29,6%; năm 2001 đạt 31,2%; năm 2002 đạt 32,1%). Thương mại đóng vai trò tích lũy ngoại tệ và thu ngân sách để bù đắp thâm hụt vốn đầu tư trong nước.
- Giải quyết việc làm: Giải quyết tình trạng thiếu việc làm/thất nghiệp (chiếm 20% lực lượng lao động) trong bối cảnh diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp (0,7 ha/hộ 4 người).
- Đổi mới công nghệ: Ngoại thương giữ vai trò tiên phong trong tiếp nhận, chuyển giao công nghệ mới từ các nước phát triển để từng bước hiện đại hóa nền tảng sản xuất trong nước.
- Bảo đảm tính thống nhất giữa kinh tế và chính trị: Hoạt động ngoại thương phải vận động cùng chiều với đường lối đối ngoại của Nhà nước, phục vụ an ninh quốc gia và nâng cao vị thế quốc tế.
Chương II: Thực trạng tác động của hoạt động thương mại đối với các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế
Chương II là phần trọng tâm phân tích thực chứng các tác động hai mặt của thương mại đối với nền kinh tế Việt Nam:
1. Tác động tích cực đến sản xuất và thu ngân sách
- Khai thông đầu ra cho nông sản chủ lực (ngành gạo): Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo; đến năm 1999 đạt đỉnh 4,5 triệu tấn (trị giá trên 1 tỷ USD). Năm 2004, xuất khẩu đạt 4,062 triệu tấn, chiếm 16% tổng thị phần lúa gạo toàn cầu, đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. Cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo năm 2004: châu Á chiếm 45-48% (cao nhất năm 2002 đạt 58,41%), châu Phi chiếm 33,3%, Trung Đông chiếm 10-19%, Mỹ Latinh chiếm 7-9%. Cơ cấu phẩm cấp gạo chuyển biến rõ rệt: gạo chất lượng cao 5% tấm chiếm 30%, gạo 25% tấm chiếm 60% kim ngạch.
- Tạo nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN): Tỷ lệ huy động ngân sách từ thuế, phí và lệ phí tăng từ 74 ngàn tỷ đồng (năm 1999) lên 183 ngàn tỷ đồng (năm 2004), tốc độ tăng thu bình quân 12,6%/năm. Giai đoạn 1992-1998, thuế xuất nhập khẩu đóng góp trên 26% tổng thu NSNN có năm (bình quân chiếm 21,36% thu thuế, phí). Giai đoạn 1999-2004, dù thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan, thuế xuất nhập khẩu vẫn chiếm bình quân 15,6% tổng thu; nếu tính cả thuế GTGT và thuế TTĐB từ hàng nhập khẩu thì tổng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm tới 31,1% tổng thu thuế, phí của NSNN.
- Chi đầu tư phát triển từ NSNN: Bình quân giai đoạn 2001-2004, chi đầu tư phát triển đạt 33% tổng chi NSNN (năm 2001: 33,7%; năm 2002: 33,8%; năm 2003: 32,2%; năm 2004: 32,3%).
- Tài trợ nhập khẩu tư liệu sản xuất và công nghệ: Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng 17,5%/năm thời kỳ 1996-2003, gấp 2,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Nhờ nguồn ngoại tệ này, tỷ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị tăng từ 27,6% (năm 1996) lên 35% (năm 2003); nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu hàng năm luôn duy trì trên 60% tổng kim ngạch nhập khẩu.
- Chuyển dịch cơ cấu sản xuất (ngành dệt may): Tỷ trọng hàng xuất khẩu thô và sơ chế giảm từ 55,8% (năm 2000) xuống còn 49% (năm 2003). Ngành dệt may tăng trưởng sản xuất 10,7%/năm, xuất khẩu tăng trưởng 59%/năm; kim ngạch tăng từ 48 triệu USD (năm 1988) lên hơn 4,3 tỷ USD (năm 2004), giải quyết việc làm cho hơn 50 vạn lao động và thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ (kéo sợi, dệt, nhuộm).
| Chỉ tiêu thu ngân sách (Đơn vị: Tỷ VNĐ) |
Năm 1999 |
Năm 2000 |
Năm 2001 |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
| Số thu thuế từ hàng hóa XNK |
20.795,0 |
18.944,5 |
22.935,0 |
31.549,0 |
33.827,0 |
| - Thuế xuất khẩu |
987,0 |
1.704,5 |
1.613,8 |
1.262,3 |
1.325,3 |
| - Thuế nhập khẩu |
12.621,0 |
10.584,0 |
14.453,0 |
18.900,0 |
17.949,0 |
| - Thuế Tiêu thụ đặc biệt (hàng NK) |
833,0 |
1.139,0 |
1.378,0 |
1.731,0 |
2.082,0 |
| - Thuế Giá trị gia tăng (hàng NK) |
5.420,0 |
5.386,0 |
5.374,0 |
9.488,0 |
12.338,0 |
| Tổng thu NSNN từ thuế, phí và lệ phí |
74.444,0 |
86.866,0 |
103.888,0 |
123.860,0 |
147.577,0 |
| Tỷ lệ thuế XNK trong tổng thu NSNN (%) |
18,28% |
14,15% |
15,47% |
16,28% |
10,83% |
2. Những tác động tiêu cực đối với sản xuất trong nước
- Buôn lậu và gian lận thương mại: Tác giả phân tích cuộc khủng hoảng đường lậu năm 1999 từ Trung Quốc và Thái Lan (giá rẻ hơn đường nội địa 1.000 - 2.000 VNĐ/kg) dẫn đến đường tồn kho ứ đọng, nhiều nhà máy phải ngừng hoạt động hoặc giảm công suất, ép giá thu mua mía cây khiến nông dân phải phá bỏ ruộng mía.
- Sức ép cạnh tranh lên các ngành công nghiệp non trẻ:
- Ngành cơ khí: Gồm gần 1.599 doanh nghiệp và 30.000 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp (200.000 lao động, tài sản gần 550 triệu USD, sản lượng 7.000 tỷ đồng, chỉ đáp ứng 8-9% nhu cầu nội địa). Trình độ công nghệ bị Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đánh giá lạc hậu hơn thế giới 30-50 năm và lạc hậu hơn các nước tiên tiến 50-100 năm. Sự cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA đe dọa trực tiếp sự tồn tại của ngành.
- Ngành mía đường: Giá thành sản xuất đường trắng bình quân trong nước đạt 5.300 VNĐ/kg, cao hơn giá quốc tế 20-30%. Mua đường thô từ Nam Mỹ và Australia rẻ hơn đường thô nội địa 15-20%, khiến ngành phụ thuộc hoàn toàn vào hàng rào bảo hộ thuế quan (thuế đường thô 25%, đường tinh 35%).
- Nạn hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ: Gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền lợi của các doanh nghiệp sản xuất chân chính và làm méo mó môi trường kinh doanh.
3. Tác động đến FDI và hội nhập kinh tế quốc tế
- Kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng nhanh từ 2 tỷ USD (chiếm 21,4% tổng kim ngạch năm 1998) lên 6,58 tỷ USD (chiếm 47% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2000).
- Tính đến thời điểm nghiên cứu, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với 221 quốc gia/vùng lãnh thổ (xuất khẩu tới 219 nước, nhập khẩu từ 151 nước), ký kết 84 hiệp định thương mại song phương. Việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA có hiệu lực từ 10/12/2001) đã đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA về mức 0-5% vào ngày 01/01/2006.
Chương III: Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của hoạt động thương mại đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới
Chương III đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cho giai đoạn 2005-2010:
- Định hướng chiến lược phát triển thương mại 2005-2010: Gắn kết các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động thương mại với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng quát của quốc gia.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Đổi mới công tác quản lý nhà nước về thương mại: Cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế điều hành xuất nhập khẩu theo hướng minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế.
- Hướng dẫn thi hành khung pháp lý mới: Tập trung triển khai hiệu quả Luật Thương mại sửa đổi năm 2005 và Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho thương nhân.
- Hạn chế tác động tiêu cực của thương mại: Tăng cường kiểm soát biên giới, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại hợp pháp để bảo vệ hợp lý các ngành công nghiệp non trẻ trong lộ trình mở cửa.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp: Đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng thương mại quốc tế và phát triển thương hiệu xuất khẩu.
Kết quả và đóng góp
- Tổng hợp bức tranh định lượng về ngoại thương giai đoạn 1986-2004: Khóa luận hệ thống hóa các chuỗi số liệu thực tế về sản lượng lúa gạo (4,062 triệu tấn năm 2004), kim ngạch dệt may (hơn 4,3 tỷ USD năm 2004), cơ cấu số thu thuế xuất nhập khẩu (chiếm 31,1% tổng thu thuế, phí giai đoạn 1999-2004) và tỷ trọng đóng góp của khối doanh nghiệp FDI (chiếm 47% xuất khẩu năm 2000).
- Đánh giá khách quan tác động hai chiều: Nghiên cứu không chỉ nêu bật thành tựu mở rộng thị trường và tăng trưởng thu nhập ngoại tệ, mà còn chỉ rõ các nguy cơ tổn thương của nền kinh tế, đặc biệt là tình trạng lạc hậu công nghệ của ngành cơ khí và gánh nặng chi phí sản xuất của ngành mía đường khi dỡ bỏ hàng rào bảo hộ thuế quan.
- Đóng góp về mặt đề xuất chính sách: Luận văn đưa ra các kiến nghị mang tính đón đầu tại thời điểm năm 2005, nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi công cụ quản lý thương mại sang các chuẩn mực của WTO và tận dụng triệt để khung pháp lý mới của Luật Thương mại năm 2005.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Tác giả tự nhận định do giới hạn về trình độ và kinh nghiệm thực tiễn nên nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở mức độ phân tích thống kê mô tả và kế thừa số liệu thứ cấp, chưa xây dựng được các mô hình kinh tế lượng định lượng hóa mức độ tác động biên của xuất nhập khẩu đối với tăng trưởng GDP. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh thực trạng đến đầu năm 2005, trước thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập WTO.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đánh giá tác động sâu rộng của việc gia nhập WTO sau năm 2006; phân tích biến động dòng vốn FDI và cán cân thương mại khi hoàn tất cam kết đưa thuế suất CEPT/AFTA về 0-5%; nghiên cứu các biện pháp phi thuế quan và rào cản kỹ thuật (TBT, SPS) đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường trọng điểm.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế cần nghiên cứu lịch sử phát triển ngoại thương Việt Nam thời kỳ tiền gia nhập WTO.
- Người nghiên cứu chính sách: Tham khảo cấu trúc phân tích so sánh pháp lý giữa Luật Thương mại 1997 và Luật Thương mại 2005 tại Chương I, cùng các bài học thực tiễn về bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ (cơ khí, mía đường) tại Chương II.
- Cơ quan quản lý và doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Tham khảo các phân tích về phân khúc thị trường nông sản và dệt may trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản trị thương mại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Thương mại năm 2005 đã khắc phục những điểm hạn chế nào của Luật Thương mại năm 1997?
Luật Thương mại năm 1997 có phạm vi điều chỉnh hẹp (chỉ giới hạn ở mua bán hàng hóa và 14 hành vi thương mại cụ thể) và xác định thương nhân thuần túy dựa trên đăng ký kinh doanh. Luật Thương mại sửa đổi năm 2005 đã khắc phục điểm này bằng cách mở rộng phạm vi điều chỉnh sang cả cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, logistics, nhượng quyền; đồng thời mở rộng khái niệm thương nhân dựa trên bản chất hoạt động thương mại thường xuyên, liên tục, độc lập dù chưa có đăng ký kinh doanh.
2. Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước giai đoạn 1999-2004 được ghi nhận ra sao?
Giai đoạn 1999-2004, tổng thu NSNN từ thuế, phí và lệ phí tăng từ 74 ngàn tỷ đồng lên 183 ngàn tỷ đồng. Thuế xuất khẩu và nhập khẩu đóng góp bình quân 15,6% tổng thu ngân sách. Nếu tính gộp cả thuế GTGT và thuế TTĐB thu từ hàng hóa nhập khẩu, tổng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng bình quân 31,1% tổng số thu thuế, phí của toàn bộ NSNN.
3. Ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt những mốc phát triển nào tính đến năm 2004?
Bắt đầu tham gia thị trường thế giới từ năm 1989 với 1,4 triệu tấn, đến năm 1999 Việt Nam xuất khẩu 4,5 triệu tấn (trị giá trên 1 tỷ USD). Năm 2004, sản lượng xuất khẩu đạt 4,062 triệu tấn, chiếm 16% thị phần lúa gạo thế giới và đưa Việt Nam giữ vị trí thứ hai toàn cầu. Thị trường tiêu thụ lớn nhất là châu Á (45-48%), tiếp đến là châu Phi (33,3% năm 2004) và Trung Đông. Tỷ trọng gạo chất lượng cao 5% tấm đã tăng lên mức 30% kim ngạch.
4. Ngành cơ khí và mía đường trong nước gặp phải những nguy cơ gì từ việc mở cửa thương mại?
Ngành cơ khí có trình độ công nghệ lạc hậu hơn các nước tiên tiến từ 50-100 năm, chỉ đáp ứng 8-9% nhu cầu nội địa và tồn tại chủ yếu nhờ hàng rào thuế quan bảo hộ. Ngành mía đường có giá thành đường trắng bình quân (5.300 VNĐ/kg) cao hơn giá thế giới 20-30%. Khi cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA và chuẩn bị gia nhập WTO, sự tràn ngập của hàng nhập khẩu giá rẻ và chất lượng cao đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của hai ngành non trẻ này.
5. Khóa luận đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào cho giai đoạn 2005-2010?
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Đổi mới công tác quản lý nhà nước về thương mại; (2) Hướng dẫn thi hành Luật Thương mại và Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu sửa đổi; (3) Hạn chế tác động tiêu cực của thương mại thông qua chống buôn lậu và bảo vệ có chọn lọc các ngành sản xuất nội địa; (4) Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua đổi mới công nghệ và phát triển thương hiệu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga là một công trình nghiên cứu kinh tế ngoại thương được trình bày mạch lạc, kết hợp giữa khung lý luận thương mại quốc tế và hệ thống dữ liệu thực chứng phong phú của Việt Nam giai đoạn 1986-2004. Tác phẩm đã phân tích rõ nét tác động hai chiều của hoạt động thương mại đối với sản xuất, tiêu dùng, thu hút FDI và hội nhập quốc tế. Các phân tích về xung lực tăng trưởng từ các ngành xuất khẩu mũi nhọn (gạo, dệt may) cũng như những cảnh báo về sự tổn thương của các ngành công nghiệp non trẻ (cơ khí, mía đường) mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình mở cửa kinh tế của Việt Nam.