Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội ở quy mô vùng và quốc gia, dân số giữ vai trò là nhân tố nền tảng vừa cung cấp nguồn lực lao động, vừa là đối tượng thụ hưởng các thành quả phát triển. Sự bùng nổ dân số và tình trạng gia tăng dân số quá nhanh tại các nước đang phát triển đặt ra áp lực lớn đối với các cân đối vĩ mô: dư thừa lao động, năng suất và chất lượng nguồn nhân lực thấp, suy giảm thu nhập bình quân đầu người, thiếu hụt lương thực - thực phẩm, quá tải hệ thống y tế - giáo dục, xuống cấp hạ tầng nhà ở, nước sạch và cạn kiệt tài nguyên môi trường sinh thái.

Tại Việt Nam, tỉnh Bình Phước là địa bàn thể hiện rõ nét các đặc trưng và sức ép này. Được tái lập từ ngày 01/01/1997 sau khi chia tách từ tỉnh Sông Bé cũ, Bình Phước bước vào giai đoạn kiến thiết với xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao, mặt bằng dân trí chưa đồng đều và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng trong khi tốc độ gia tăng dân số luôn nằm ở mức báo động. Đứng trước yêu cầu quản lý lãnh thổ và hoạch định chính sách phát triển bền vững, tác giả Nguyễn Thị Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Địa lý với đề tài: "Gia tăng dân số và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là vận dụng có chọn lọc các cơ sở lý luận nhân khẩu học và thực tiễn để xác định thực trạng gia tăng dân số tại Bình Phước; phân tích, đánh giá tác động nhiều mặt của gia tăng dân số đối với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, từ đó tìm kiếm các căn cứ nhằm bảo đảm sự gia tăng dân số một cách hợp lý.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Phân tích hiện trạng gia tăng dân số tỉnh Bình Phước.
  2. Đánh giá tác động của gia tăng dân số đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
  3. Dự báo phát triển dân số và kinh tế - xã hội, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm phát triển dân số và kinh tế - xã hội hợp lý.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ tương hỗ giữa gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ ranh giới hành chính tỉnh Bình Phước qua các thời điểm điều chỉnh địa giới (từ 5 huyện ban đầu đến khi hình thành 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã). Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung từ mốc tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2003 - 2004.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên thuyết chuyển tiếp dân số (Demographic Transition Theory) với mô hình 4 giai đoạn biến đổi nhân khẩu học kinh điển, xác định Việt Nam trong thập niên 1980 - 1990 nằm ở giai đoạn trung gian (giai đoạn bùng nổ dân số khi mức tử giảm nhanh nhưng mức sinh còn cao) và đang tiến tới giai đoạn ổn định. Hệ thống khái niệm và thước đo nhân khẩu học được chuẩn hóa theo phân loại học thuật:

  • Mức sinh: Tỷ suất sinh thô (CBR), tỷ suất sinh chung, tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi, tổng tỷ suất sinh (TFR).
  • Mức tử: Tỷ suất tử thô (CDR), tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (IMR), tỷ suất tử đặc trưng theo độ tuổi (ASDR).
  • Gia tăng dân số: Gia tăng tự nhiên (RNI = CBR - CDR), gia tăng cơ học (tỷ suất xuất cư ER, tỷ suất nhập cư IR, gia tăng cơ học thuần NMR = IR - ER), tỷ suất tăng trưởng dân số tổng thể (RPG) tính theo phương trình hàm số mũ.
  • Cấu trúc dân số: Tháp tuổi (kiểu mở rộng, kiểu thu hẹp, kiểu ổn định), tỷ số phụ thuộc (dân số 0 - 14 tuổi và trên 60 tuổi so với nhóm 15 - 59/60 tuổi), kết cấu giới tính, kết cấu dân tộc, kết cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế (ISIC) và trình độ học vấn theo chuẩn thống kê của UNESCO.
  • Phát triển kinh tế - xã hội: Phân biệt tăng trưởng thuần túy (GNP, GDP, GNP/người, GDP/người) với phát triển kinh tế (sự biến đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng sống qua chỉ số tuổi thọ bình quân, mức cung cấp năng lượng calo đầu người, tỷ lệ người biết chữ). Về mặt phương pháp luận, tác giả khẳng định sự thống nhất biện chứng giữa sản xuất của cải vật chất và tái sản xuất bản thân con người.

Khóa luận triển khai nghiên cứu dựa trên hệ quan điểm địa lý học: quan điểm tổng hợp lãnh thổ (gắn nhân khẩu với tài nguyên, vị trí, đặc thù từng huyện), quan điểm hệ thống (xem tỉnh là một hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh có mối liên hệ với vùng Đông Nam Bộ và cả nước), quan điểm lịch sử - viễn cảnh và quan điểm phát triển bền vững.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý chuỗi số liệu thứ cấp có giá trị pháp lý; chủ động sử dụng số liệu năm sau thay thế cho năm trước khi phát hiện sự thiếu đồng nhất giữa các niên giám.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp thông tin: Đối chiếu, phân loại nguồn tư liệu từ niên giám, sách chuyên khảo và báo cáo ngành.
  • Phương pháp biểu đồ: Trực quan hóa diễn biến nhân khẩu, cơ cấu kinh tế thông qua biểu đồ cột, biểu đồ đường, biểu đồ tròn và biểu đồ tam giác.
  • Phương pháp điều tra thực địa và đánh giá tổng hợp: Khảo sát thực tế, phỏng vấn người dân và cán bộ lãnh đạo địa phương nhằm thẩm định các nhận định định lượng.
  • Phương pháp dự báo: Dựa trên xu thế vận động lịch sử để ngoại suy các biến số dân số và kinh tế.

Nguồn dữ liệu của công trình được cung cấp bởi Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh Bình Phước, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp tỉnh Bình Phước, cùng nguồn tài liệu học thuật từ Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương này trình bày hệ thống lý luận về dân số học, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, cùng mối tương quan biện chứng giữa hai quá trình. Tác giả chứng minh rằng tốc độ gia tăng GDP bình quân đầu người chịu chi phối trực tiếp bởi hiệu số giữa tốc độ tăng GNP và tỷ suất gia tăng dân số.

Chương 1 cung cấp chuỗi số liệu so sánh quốc tế và liên vùng tại Việt Nam:

  • Giai đoạn 1950 - 2000, các nước thu nhập thấp có mức tăng dân số trung bình hàng năm từ 2,0% đến 2,5%, cao gấp 2 - 3 lần các nước phát triển (chỉ tăng từ 0,6% đến 1,0%), dẫn đến khoảng cách chênh lệch GNP/người mở rộng từ 30 lần (năm 1968) lên 66 lần (năm 2000).
  • Tại Việt Nam (thời kỳ 1995 - 2002), tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức tăng dân số có sự phân hóa rõ giữa các vùng: vùng Đông Nam Bộ có mức tăng dân số 1,3% nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10% (thu nhập bình quân 1,692 triệu đồng/người); ngược lại, vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có mức gia tăng tự nhiên cao (2,2%), khiến thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt mức thấp (lần lượt 0,492 và 0,820 triệu đồng/người).
  • Phân tích chi tiết áp lực của quy mô và cơ cấu dân số lên nguồn lao động - giải quyết việc làm, áp lực đầu tư mở rộng trường lớp - nâng cao dân trí (nêu dẫn chứng tỷ lệ chi tiêu GDP cho giáo dục toàn cầu và Việt Nam), cũng như gánh nặng y tế - chăm sóc sức khỏe cộng đồng qua các chỉ số bác sĩ, giường bệnh và tỷ lệ suy dinh dưỡng.

Chương 2: Dân số với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước

Chương 2 là phần thực nghiệm trọng tâm, phân tích thực trạng dân số và các khía cạnh kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2003:

Lịch sử hành chính: Tỉnh Bình Phước được tái lập ngày 01/01/1997 với 5 huyện: Đồng Phú, Bình Long, Lộc Ninh, Bù Đăng, Phước Long. Đến tháng 01/2000, Thị xã Đồng Xoài chính thức hoạt động (theo Nghị định 90/1999/NĐ-CP). Đến năm 2003, huyện Bù Đốp được chia tách từ huyện Lộc Ninh, và huyện Chơn Thành được chia tách từ huyện Bình Long.

Quy mô và biến động gia tăng dân số: Dân số trung bình của tỉnh tăng từ 581.802 người (1997) lên 773.297 người (2003), tăng thêm 191.495 người (tăng 42,9% sau 6 năm). Phước Long là đơn vị đông dân nhất (175.829 người năm 2003, chiếm 22,74% toàn tỉnh), còn Bù Đốp có quy mô nhỏ nhất (49.184 người, chiếm 6,36%). Tỷ lệ tăng tự nhiên giảm từ 2,24% (1997) xuống 1,75% (2003), giảm 0,49%.

Chỉ tiêu nhân khẩu học Năm 1997 Năm 1999 Năm 2001 Năm 2003 Biến động 1997 - 2003
Dân số trung bình (người) 581.802 643.437 707.126 773.297 Tăng 191.495 người
Tỷ suất sinh thô - CBR (‰) 28,51 25,60 25,10 23,69 Giảm 4,82‰
Tỷ suất tử thô - CDR (‰) 5,97 5,82 5,66 5,43 Giảm 0,54‰
Tỷ suất gia tăng tự nhiên (‰) 22,54 19,78 19,44 18,26 Giảm 4,28‰
Tổng tỷ suất sinh - TFR (con/phụ nữ) 3,9 3,4 3,1 2,8 Giảm 1,1 con
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (%) 28,69 - - 16,45 Giảm 12,24%
Tỷ lệ gia tăng cơ học (‰) 33,68 15,55 29,60 - Biến động không ổn định
Mật độ dân số bình quân (người/km²) 84 93 102 113 Tăng 29 người/km²

Phân bố và mật độ dân cư: Mật độ dân số phân hóa sâu sắc theo lãnh thổ. Năm 2003, Thị xã Đồng Xoài có mật độ cao nhất đạt 361 người/km² (tập trung trung tâm kinh tế - văn hóa); trong khi các huyện miền núi có mật độ rất thưa thớt như Bù Đăng đạt 71 người/km² và Bình Long đạt 73 người/km².

Cơ cấu dân số:

  • Tháp dân số mang đặc trưng điển hình của dân số trẻ (đáy rộng, đỉnh nhọn hẹp). Nhóm tuổi 0 - 14 tuổi năm 1997 chiếm 39,77%, đến năm 2003 giảm xuống 38,20%; nhóm 15 - 59 tuổi tăng từ 54,42% lên 56,99%; nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ (5,81% năm 1997 và 4,81% năm 2003). Tỷ số phụ thuộc chung giảm từ 83,79% xuống 75,29% (trong đó gánh nặng phụ thuộc trẻ em năm 2003 chiếm tới 67,04%, phụ thuộc người già chiếm 8,45%).
  • Cơ cấu giới tính đảo chiều do di cư: Năm 1997, tỷ số giới tính là 94,17 nam/100 nữ (nam chiếm 48,50%); đến năm 2003, tỷ số này đảo ngược thành 104,8 nam/100 nữ (nam chiếm 50,85%) vì dòng người di cư nhập cư đến Bình Phước phần lớn là lao động nam giới.

Lao động và thành phần dân tộc:

  • Số người trong độ tuổi lao động tăng mạnh từ 316.546 người (1997) lên 446.642 người (2003), chiếm 57,7% dân số toàn tỉnh. Tuy nhiên chất lượng lao động rất thấp: năm 2002, trong 341.609 người đang hoạt động kinh tế, có tới 286.781 người chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 83,95%); số lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 54.828 người (chiếm 16,05%), gồm 35.801 người có bằng/chứng chỉ nghề, 14.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp và 5.027 người có trình độ cao đẳng - đại học trở lên (chiếm 9,10% số đã đào tạo). Toàn tỉnh thời điểm này chỉ có 07 cơ sở dạy nghề quy mô nhỏ.
  • Dân tộc: Toàn tỉnh có 29 thành phần dân tộc sinh sống. Người Kinh chiếm đa số với 81,40% (620.887 người năm 2002); dân tộc bản địa lâu đời lớn nhất là người Xtiêng (S'tiêng) chiếm 10,01% (76.324 người), cư trú chủ yếu tại huyện Bù Đăng (đặc biệt tại Sóc Bom Bo), mang nét văn hóa mẫu hệ/phụ hệ chuyển tiếp, sinh hoạt già làng (bu kuong), lễ hội đâm trâu và cồng chiêng. Tiếp theo là người Nùng (18.250 người), Tày (18.256 người), Khmer (13.561 người), Hoa (9.050 người).

Phát triển kinh tế: Tổng sản phẩm xã hội năm 2002 (giá so sánh 1994) tăng 14,57% so với năm 2001; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt 2.804 ngàn đồng/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 640.260 triệu đồng (giá 1994), tăng gấp hơn 3,2 lần so với năm 1997 (197.576 triệu đồng), trong đó công nghiệp chế biến nông - lâm sản chiếm ưu thế tuyệt đối nhờ nguồn nguyên liệu sẵn có, trong khi khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp (74,5% năm 2002).

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dân số và kinh tế xã hội ở Bình Phước đến năm 2010

Chương này tập trung vào các định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp phát triển:

  • Mục tiêu điều chỉnh dân số: Thực hiện đồng bộ các biện pháp giảm sinh, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba, phấn đấu ổn định quy mô gia đình ít con để đưa mức tăng dân số tự nhiên về ngưỡng hợp lý; gắn kết công tác Kế hoạch hóa gia đình với Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 và Pháp lệnh Dân số.
  • Quản lý phân bố dân cư và nhập cư: Điều tiết dòng di dân cơ học tự do; quy hoạch lại mạng lưới điểm dân cư gắn với việc giãn mật độ tập trung quá mức tại Thị xã Đồng Xoài; đầu tư thích đáng hạ tầng xã hội và hỗ trợ sản xuất cho các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Bù Đăng, Lộc Ninh, Bù Đốp).
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Quy hoạch mạng lưới giáo dục đào tạo, mở rộng và nâng cấp năng lực của 07 cơ sở dạy nghề hiện có; chuyển đổi cơ cấu đào tạo từ lao động phổ thông sang lao động có tay nghề kỹ thuật nhằm đáp ứng sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
  • Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Phát huy lợi thế vùng cây công nghiệp (cao su, điều, hồ tiêu); khuyến khích doanh nghiệp liên kết bao tiêu sản phẩm với nông dân; ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến; cải thiện công tác quản lý bảo vệ rừng trước tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng do sức ép gia tăng dân số.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu thực tế:

  • Hệ thống hóa toàn diện bức tranh biến động dân số tỉnh Bình Phước trong 7 năm đầu tái lập tỉnh (1997 - 2003): chứng minh quy mô dân số tăng thêm 42,9% (đạt 773.297 người vào năm 2003); phản ánh sự suy giảm của tỷ suất gia tăng tự nhiên (giảm từ 2,24% xuống 1,75%), mức sinh thô (giảm từ 28,51‰ xuống 23,69‰), tổng tỷ suất sinh TFR (giảm từ 3,9 xuống 2,8 con/phụ nữ) và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên (giảm mạnh từ 28,69% xuống 16,45%).
  • Định lượng hóa hiện trạng bất cập về chất lượng nguồn lao động địa phương: chỉ rõ 83,95% lao động đang hoạt động kinh tế thuộc diện phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật; mạng lưới dạy nghề hạn chế với chỉ 07 cơ sở quy mô nhỏ.
  • Làm rõ cấu trúc phân bố không gian dân cư: chỉ ra sự mất cân đối lớn giữa mật độ trung tâm kinh tế (Thị xã Đồng Xoài đạt 361 người/km²) với các địa bàn vùng cao, vùng biên giới (Bù Đăng chỉ 71 người/km²).
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Đây là một trong những công trình chuyên khảo địa lý học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về mối tương quan giữa nhân khẩu và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước sau thời điểm chia tách tỉnh Sông Bé (1997). Tác giả đã xử lý chuỗi số liệu phân tán từ nhiều sở ngành để xây dựng cơ sở thực tiễn phục vụ quản lý dân cư và quy hoạch kinh tế lãnh thổ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Dữ liệu thống kê thứ cấp thu thập từ Niên giám thống kê và báo cáo của các cơ quan chuyên môn trên địa bàn tỉnh tồn tại sự thiếu đồng nhất, buộc tác giả phải dùng kỹ thuật thay thế số liệu năm sau cho năm trước tại một số bảng mục.
  • Biến động liên tục về ranh giới hành chính của tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 1997 - 2003 (thành lập Thị xã Đồng Xoài năm 1999 - 2000; thành lập huyện Bù Đốp và Chơn Thành vào năm 2003) làm gián đoạn chuỗi số liệu thống kê liên tục của từng huyện, khiến việc so sánh chi tiết giữa các đơn vị cấp cơ sở qua từng năm gặp khó khăn.
  • Công trình chủ yếu dừng lại ở các phương pháp thống kê mô tả, biểu đồ và điều tra phỏng vấn bán cấu trúc; chưa ứng dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc công cụ Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) để phân tích không gian tương tác giữa gia tăng dân số và suy thoái tài nguyên rừng.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Bổ sung chuỗi số liệu thống kê sau năm 2003 khi bộ máy hành chính của các huyện mới tách đã đi vào vận hành ổn định.
  • Ứng dụng bản đồ số và GIS trong phân tích biến động sử dụng đất dưới áp lực của dòng di dân tự do và mở rộng diện tích trồng cây cao su, cây công nghiệp ngắn ngày.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Địa lý học, Địa lý Kinh tế - Xã hội, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Quản lý Nhà nước khi tìm hiểu phương pháp nghiên cứu một địa bàn cấp tỉnh sau chia tách địa giới hành chính.
  • Sinh viên thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đề tài dân số, lao động - việc làm, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
  • Các nhà quản lý, cán bộ thuộc ngành Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước tham khảo hệ thống dữ liệu nhân khẩu học thời kỳ 1997 - 2003 làm mốc so sánh lịch sử cho các quy hoạch phát triển dài hạn.
  • Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống bảng biểu định lượng về mức sinh, mức tử, tỷ suất di cư cơ học, biến động tháp tuổi và cơ cấu chất lượng lao động tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ số giới tính của tỉnh Bình Phước biến động như thế nào trong giai đoạn 1997 - 2003 và nguyên nhân do đâu?
Năm 1997, tỷ số giới tính toàn tỉnh ở mức 94,17 nam/100 nữ (nam chiếm 48,50% tổng dân số). Đến năm 2003, tỷ số này đảo chiều thành 104,8 nam/100 nữ (nam chiếm 50,85% tổng dân số). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quá trình gia tăng cơ học, khi phần lớn dòng người di chuyển từ các tỉnh thành khác đến Bình Phước sinh sống và tìm kiếm việc làm là nam giới.

2. Mức sinh của phụ nữ tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997 - 2003 thay đổi ra sao?
Tổng tỷ suất sinh (TFR) của tỉnh giảm đều từ 3,9 con/phụ nữ (năm 1997) xuống còn 2,8 con/phụ nữ (năm 2003), tức giảm 1,1 con sau 6 năm. Đồng thời, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên giảm mạnh từ 28,69% (năm 1997) xuống 16,45% (năm 2003), tương ứng mức giảm 12,24%.

3. Khóa luận ghi nhận thực trạng chất lượng nguồn lao động tại Bình Phước thời điểm năm 2002 như thế nào?
Năm 2002, toàn tỉnh có 341.609 người đang tham gia hoạt động kinh tế, nhưng có tới 286.781 người không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 83,95%). Số lao động đã qua đào tạo là 54.828 người (chiếm 16,05%), trong đó người có trình độ cao đẳng - đại học trở lên chỉ có 5.027 người (chiếm 9,10% lực lượng đã qua đào tạo). Toàn tỉnh chỉ có 07 cơ sở dạy nghề với quy mô nhỏ.

4. Mật độ dân số giữa các đơn vị hành chính trong tỉnh có sự chênh lệch như thế nào vào năm 2003?
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh năm 2003 là 113 người/km². Nơi có mật độ cao nhất là Thị xã Đồng Xoài đạt 361 người/km² (gấp hơn 3 lần bình quân toàn tỉnh). Nơi có mật độ thấp nhất là huyện Bù Đăng với 71 người/km² (chủ yếu là vùng đồi núi, đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống) và huyện Bình Long với 73 người/km².

5. Thành phần dân tộc tại tỉnh Bình Phước được xác định gồm những nhóm chính nào?
Tỉnh Bình Phước có 29 dân tộc cùng sinh sống. Dân số tính đến cuối năm 2002 ghi nhận người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 81,40% (620.887 người), kế tiếp là người Xtiêng chiếm 10,01% (76.324 người). Các dân tộc tiếp theo gồm có Tày (18.256 người), Nùng (18.250 người), Khmer (13.561 người) và Hoa (9.050 người).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thảo đã phác họa bức tranh toàn diện về mối tương quan giữa gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước trong giai đoạn đầu tái lập tỉnh (1997 - 2003). Tác phẩm kết hợp hiệu quả hệ phương pháp địa lý học lãnh thổ với các dữ liệu nhân khẩu học định lượng thực tế để làm rõ các mặt tích cực trong việc giảm sinh, hạ mức tăng tự nhiên, song song với việc chỉ ra sức ép từ gia tăng cơ học, cơ cấu dân số trẻ và chất lượng lao động chưa cao. Các định hướng và giải pháp đề xuất trong công trình là nguồn căn cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch phát triển bền vững địa phương đến năm 2010.