phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: 6 Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nƣớc về dân số Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về dân số ở tỉnh Bắc Kạn Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về dân số ở tỉnh Bắc Kạn. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DÂN SỐ 1. Khái quát chung về quản lý nhà nƣớc về dân số 1. Khái niệm dân số • Khái niệm trú thƣờng xuyên và sống trên một lãnh thổ nhất định (một nƣớc, một vùng kinh tế, một đơn vị hành chính - lãnh thổ).
hạn định trong phạm vi nào đó (về lãnh thổ, về xã hội) và có một số tính chất gắn liền với sự tái sản xuất liên tục của nó. Dân số theo nghĩa thông thƣờng là số lƣợng dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng nhất định. Dân số theo nghĩa rộng đƣợc hiểu là một tập hợp ngƣời. Tập hợp này không chỉ là số lƣợng mà cả cơ cấu và chất lƣợng [16].
Khái niệm dân số theo Khoản 1, Điều 3 của Pháp lệnh dân số 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2008): “Dân số là tập hợp ngƣời sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính”. Với khái niệm này, dân số là một phạm trù rộng. 8 • Các yếu tố cơ bản của dân số - Quy mô dân số là tổng số dân sinh sống trên một vùng lãnh thổ (một khu vực, một quốc gia. Quy mô dân số có thể tính theo tổng số dân tại một thời điểm (đầu kỳ, cuối kỳ, một thời điểm nào đó) hoặc tổng số dân số trung bình của một thời kỳ.
Nhà nƣớc điều chỉnh quy mô dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên, môi trƣờng thông qua các chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế -xã hội, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình để điều chỉnh mức sinh và ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý [16]. - Cơ cấu dân số, là tổng số dân đƣợc phân loại giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với tổng số dân. hội, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. của dân số và nguồn lao động của một nƣớc.
Ba l kinh tế trong khu vực I: Nông-lâm- ngƣ nghiệp; Khu vực II: Công nghiệp-xây dựng; Khu vực III: Dịch vụ. 9 chữ 15 tuổi trở lên; Số năm đi học của ngƣời 25 tuổi trở lên. - kinh tế hoặc một đơn vị hành chính. côn - Chất lƣợng dân số: Chất lƣợng dân số là sự phản ánh các đặc trƣng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số [23].
Chất lƣợng dân số đƣợc phản ánh thông qua hàng loạt các tiêu chí cụ thể liên quan đến tầm vóc, thể lực, sức khỏe sinh sản, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp, đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản, đời sống tinh thần và các vấn đề văn hóa thông tin, gắn kết cộng đồng và an ninh xã hội của toàn thể dân cƣ. 10 Theo Pháp lệnh Dân những thành tố sau: + Thể chất: gồm các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo dinh dƣỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi, gen di truyền (nhƣ tật nguyền bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, nhiễm chất độc hóa học, chất độc màu da cam) của ngƣời dân; + Trí tuệ: gồm các yếu tố trình độ học vấn, thẩm mỹ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề, thể hiện qua tỉ lệ biết chữ, số năm bình quân đi học/đầu ngƣời, tỉ lệ ngƣời có bằng cấp, đƣợc đào tạo về chuyên môn kỹ thuật; + Tinh thần: gồm các yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thông tin, vui chơi, giải trí của ngƣời dân. Khái niệm quản lý nhà nước về dân số 1. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng quản lý.
Hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [14]. Quản lý nhà nƣớc là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Hiểu theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nƣớc là hoạt động hành chính 11 của cơ quan thực thi quyền lực nhà nƣớc (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó, quản lý hành chính nhà nƣớc là hoạt động quản lý đƣợc giới hạn trong các cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp; hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tƣ pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nƣớc.
Nếu tiếp cận khái niệm Quản lý nhà nƣớc dƣới góc độ này, Quản lý nhà nƣớc bao gồm có 2 chức năng cơ bản: (1) Lập quy đƣợc thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hƣớng dẫn thực hiện pháp luật; (2) Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đƣa luật pháp vào đời sống xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước về dân số Quản lý nhà nƣớc về dân số - kế hoạch hóa gia đình là quá trình tác động có ý thức, có tổ chức của nhà nƣớc đến các quá trình và yếu tố dân số nhằm làm thay đổi trạng thái dân số để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra [27]. Quản lý nhà nƣớc về dân số là Nhà nƣớc thông qua hệ thống chính sách, luật pháp và cơ chế tổ chức các cơ quan quản lý của mình để điều khiển và tác động vào các đối tƣợng của quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lƣợng dân số, nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Quá trình quản lý đó đi từ việc nghiên cứu hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, các chiến lƣợc, chƣơng trình, kế hoạch, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy, hình thành cơ chế quản lý điều hành và tác động làm cho các chủ trƣơng, chính sách đến tận ngƣời dân và biến nó thành hiện thực trong cuộc sống.
Chủ thể quản lý của nhà nƣớc về dân số là Nhà nƣớc với hệ thống các cơ quan của Nhà nƣớc đƣợc phân chia thành các cấp và bao gồm cả 3 lĩnh vực là lập pháp, hành pháp và tƣ pháp, trong đó quản lý hành chính (hành pháp) về dân số là cực kỳ quan trọng. Ở nƣớc ta, chủ thể quản lý nhà nƣớc về dân số đƣợc phân cấp nhƣ sau: 12 - Chủ thể quản lý nhà nƣớc về dân số cấp Trung ƣơng: C c năng quản lý nhà nƣớc về dân số ộ Y tế ổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình là tổ chức thuộc Bộ Y tế, thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Bộ trƣởng Bộ Y tế quản lý nhà nƣớc và tổ chức thực thi pháp luật về dân số - kế hoạch hóa gia đình trong phạm vi cả nƣớc. - Chủ thể quản lý nhà nƣớc về dân số cấp địa phƣơng: Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về dân số ở đị Ủ và có các cơ quan chuyên môn tham mƣu, giúp việc. Ở Ủ ản lý nhà nƣớc về dân số; Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh là tổ chức thuộc Sở Y tế, thực hiện chức năng tham mƣu giúp Giám đốc Sở Y tế quản lý nhà nƣớc về dân số.
Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Y tế, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hƣớng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn nghiệp vụ của Tổng cục Dân số - KHHGĐ. Ở ố - KHHGĐ huyện là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục Dân số - KHHGĐ đặt tại huyện, có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật, truyền thông giáo dục về dân số trên địa bàn huyện, tham mƣu cho Ủy ban nhân dân h ố Ở ộ chuyên trách dân số - KHHGĐ xã có trách nhiệm tham mƣu, giúp việ dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chƣơng trình dân số trên địa bàn xã; cộng tác viên dân số - KHHGĐ thôn bản có trách nhiệm cùng cán bộ y tế thôn bản tuyên truyền, vận động về dân số, vệ sinh phòng bệ Các cấp ở ều thành lập Ban Chỉ đạo công tác dân số - KHHGĐ, Trƣởng Ban là lãnh đạo Ủy ban nhân dân cùng cấp, Phó Ban là lãnh đạo cơ quan Y tế và dân số - KHHGĐ, các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp. 13 Đối tƣợng quản lý nhà nƣớc về dân số là các quá trình dân số liên quan đến quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lƣợng dân số. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để phân chia đối tƣợng quản lý ra thành các loại khác nhau (cá nhân, tập thể, tổ chức) nhằm phù hợp với các yêu cầu quản lý của nhà nƣớc.
Khách thể của quản lý nhà nƣớc về dân số là các tổ chức, cá nhân. Khách thể của quá trình quản lý chính là hành vi, các hoạt động của con ngƣời, các tổ chức ngƣời trong cuộc sống xã hội bao gồm cả các hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần cũng nhƣ các điều kiện sống của con ngƣời trong xã hội.