BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------∞--------- HOÀNG THỊ ÁNH HỒNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀ GIÁ LƢƠNG THỰC THẾ GIỚI LÊN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Hoàng Thị Ánh Hồng, tác giả của luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu tác động của giá dầu và giá lƣơng thực thế giời lên nền kinh tế Việt Nam”. Tôi xin cam đoan: Nội dung của luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và có số liệu rõ ràng, đƣợc lấy từ phần mềm kinh tế lƣợng, không sao chép từ nguồn khác. Tất cả tài liệu tham khảo đƣợc trích dẫn đầy đủ và rõ ràng. TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015 Ngƣời cam đoan Hoàng Thị Ánh Hồng MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC HÌNH DANH MỤC BẢNG TÓM TẮT .1 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU. Lý do chọn đề tài:.
Mục tiêu nghiên cứu. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu. Nội dung và cấu trúc của bài nghiên cứu .6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀ GIÁ LƢƠNG THỰC .1 Kênh truyền dẫn tác động của các cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế trong nƣớc.
Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giá dầu và giá lƣơng thực đến nền kinh tế .11 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU. Phƣơng pháp nghiên cứu .3 Các biến sử dụng. Mô hình nghiên cứu .27 CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .1 Thống kê mô tả. Các kiểm định ban đầu.
Kiểm định nghiệm đơn vị. Kiểm định độ trễ tối ƣu của mô hình. Kiểm định tính ổn định của mô hình .3 Tác động của cú sốc giá dầu thế giới và giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế Việt Nam.1 Tác động của cú sốc giá dầu thế giới lên nền kinh tế Việt Nam.1 Phân tích hàm phản ứng đẩy của cú sốc giá dầu thế giới.2 Phân tích phân rã phƣơng sai của cú sốc giá dầu thế giới.2 Tác động của cú sốc giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế của Việt Nam .1 Phân tích hàm phản ứng đẩy của cú sốc giá lƣơng thực thế giới.2 Phân tích phân rã phƣơng sai của cú sốc giá lƣơng thực thế giới.4 Các hàm ý về mặt chính sách .52 CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN .57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC HÌNH Hình 1: Tác động truyền dẫn của giá dầu và giá lƣơng thực thế giới đến các biến kinh tế vĩ mô trong nƣớc .9 Hình 2: Phản ứng của sản lƣợng, cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái thực, lạm phát đối với cú sốc giá dầu .41 Hình 3: Hàm phản ứng đẩy của cung tiền và lạm phát trƣớc cú sốc giá dầu.43 Hình 4: Phản ứng của sản lƣợng, cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái thực, lạm phát đối với cú sốc lƣơng thực thế giới.48 DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Các biến trong mô hình cấu trúc tự hồi quy véc tơ (SVAR) .24 Bảng 2: Kiểm định Unit Root bằng phƣơng pháp ADF .36 Bảng 3: Kiểm định độ trễ tối ƣu của mô hình SVAR .37 Bảng 4: Kiểm định Portmanteau .38 Bảng 5: Kiểm định LM test .39 Bảng 6: Tính ổn định của các biến trong mô hình .40 Bảng 7: Kết quả phân rã phƣơng sai của cú sốc giá dầu .46 Bảng 8: Kết quả phân rã phƣơng sai của cú sốc giá lƣơng thực .51 1 TÓM TẮT Bài nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về sự tác động của cú sốc giá dầu và cú sốc giá lƣơng thực thế giới lên các yếu tố kinh tế vĩ mô ở Việt Nam bao gồm lạm phát, sản lƣợng, cung tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái thực từ quí 1 năm 2001 đến quí 2 năm 2014 theo mô hình cấu trúc tự hồi quy véctơ (SVAR). Trong đó hàm phản ứng đẩy và phân tích phân rã phƣơng sai đƣợc sử dụng để theo dõi ảnh hƣởng của giá dầu và giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế Việt Nam.
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng lạm phát và cung tiền phản ánh mạnh trƣớc cú sốc của giá dầu, lãi suất ít bị ảnh hƣởng hơn và tỷ giá hối đoái thực chỉ chịu tác động không đáng kể. Khi có cú sốc lƣơng thực thế giới xảy ra thì kết quả này lại cho mạnh hơn đối với ảnh hƣởng của cú sốc giá dầu, trong đó biến cung tiền và lãi suất bị tác động mạnh nhất sau đó đến biến sản lƣợng, lãi suất và tỷ giá hối đoái. 2 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài: Sự thay đổi giá dầu và giá lƣơng thực thế giới trong thời gian gần đây đƣợc xem nhƣ là một trong những nguyên nhân gây ra các biến động kinh tế vĩ mô, tạo nên những áp lực đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế nhằm ổn định nền kinh tế quốc gia.
Có thể thấy rõ nhất là sự bùng nổ giá cả hàng hóa toàn cầu, đặc biệt là giá dầu và giá lƣơng thực trong những năm 2007 đến 2008 đã đẩy chi phí sản xuất tăng cao dẫn đến sản lƣợng tăng trƣởng của thế giới bị chậm lại, cùng với khủng hoảng kinh tế thế giới và suy thoái kinh tế của Mỹ lúc đó đã và đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng cho nền kinh tế thế giới. Nhiều nghiên cứu khoa học đã cho rằng sự thay đổi giá hàng hóa thế giới đƣợc xem nhƣ là một sự bắt đầu của chu kì kinh doanh, và một mối tƣơng quan ngƣợc chiều giữa giá hàng hóa thế giới và các biến kinh tế vĩ mô ở những nƣớc nhập khẩu mặt hàng này thông qua các kênh cung cầu. Cú sốc giá dầu bắt đầu vào năm 1970 đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nó đƣợc coi là một trong nhiều lý do tạo nên suy thoái kinh tế toàn cầu đặc biệt là đối với các nƣớc nhập khẩu dầu (Hamilton 1983, Hamilton 1996, Hamilton 2003). Giá lƣơng thực tăng cao trong năm 1970 cũng đã tạo ra những cuộc khủng hoảng lớn trên toàn thế giới dẫn đến nạn đói năm 1973.
Tiếp đó từ khoảng 18usd/ thùng trong những năm 1990, 40usd/ thùng năm 2004 đã tăng vọt lên 70usd/thùng năm 2007 và còn tăng hơn 147usd/thùng năm 2008, sự gia tăng nhanh chóng này gây ra tác động không tốt đối với ngƣời tiêu dùng và các nhà sản xuất ở các nƣớc nhập khẩu thông qua tác động truyền dẫn từ các sản phẩm đƣợc hình thành từ nguồn nguyên liệu này. Đối với ngƣời tiêu dùng thì chi phí hóa đơn năng lƣợng gia tăng, đối với nhà sản xuất thì phải chịu thêm sự gia tăng trong chi phí cho một đơn vị sản phẩm (Lescaroux và cộng sự 2008). Tƣơng tự ta thấy giá lƣơng thực cũng tăng cao bắt đầu từ năm 2007, đến năm 2008 vƣợt 39% so cùng 3 kỳ ở vào điểm cùng kỳ (Jongwapick và cộng sự 2009), cũng đã gây ra một cuộc khủng hoảng lớn lƣơng thực lớn trên toàn cầu và tác động xấu đến nền kinh tế. Có thể nói giá dầu gia tăng cũng kéo theo sự gia tăng trong giá lƣơng thực, và tác động của sự gia tăng hai mặt hàng này tác động không tốt đến nền kinh tế.
Dầu là nguồn nhiên liệu chủ yếu cho các hoạt động kinh tế và do đó tăng giá dầu tác động trực tiếp trên nhiều hoạt động kinh tế và tác động gián tiếp đến ngƣời tiêu dùng. Giá dầu tăng, chi phí đầu vào tăng và năng suất sản xuất giảm, từ đó tạo ra ảnh hƣởng xấu đến tiền lƣơng thực tế và việc làm, giá cả và lạm phát cơ bản, lợi nhuận, đầu tƣ cũng nhƣ giá trị thị trƣờng của công ty ( Lescaroux và cộng sự 2008). Bên cạnh đó giá lƣơng thực cũng tăng cao kể từ năm 2007 đã tác động lớn đến đến giá tiêu dùng trong nƣớc bởi vì lƣơng thực chiếm phần lớn trong rổ hàng hóa tiêu dùng ở các nƣớc đang phát triển ( Jongwanich và cộng sự 2011). Phần lớn các nghiên cứu trƣớc đây về tác động của cú sốc của giá cả các loại hàng hóa thế giới, trong đó chủ yếu là giá dầu lên hoạt động kinh tế đều đƣợc thực hiện ở các nƣớc phát triển, còn những nghiên cứu liên quan đến sự tác động này lên nền kinh tế ở các nƣớc đang phát triển thì rất ít.
Điều này một phần là do vẫn bị hạn chế về mặt số liệu và sự phụ thuộc vào dầu mỏ và lƣơng thực không nhiều của các nƣớc đang phát triển. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực thế giới đến các chỉ số kinh tế Việt Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Việt Nam đang đƣợc xem là nƣớc đang phát triển với lƣợng xuất khẩu dầu thô với 16 đến 18 triệu tấn mỗi năm, chiếm 20% trong tổng xuất khẩu, đóng góp 18-20% trong GDP và 25-30% trong nguồn thu của chính phủ. Tuy nhiên trƣớc năm 2009 Việt Nam phải nhập khẩu hoàn toàn dầu mỏ đã qua tinh chế để tiêu dùng trong nƣớc, đến tháng 2/2008 đã sản xuất đƣợc sản phẩm dầu tinh khiết đầu tiên nhƣng chỉ đáp ứng đƣợc 1/3 nhu cầu trong nƣớc.
Do đó giá cả trong nƣớc vẫn chịu nhiều ảnh hƣởng từ sự biến động giá cả trên thị trƣờng thế giới, đặc biệt là 4 giá dầu càng trở nên quan trọng trƣớc định hƣớng trở thành một nƣớc công nghiệp vào năm 2020 của Việt Nam. Việt Nam hiện tại đang có ƣu thế về xuất khẩu lƣơng thực, trong đó chủ yếu là gạo, hiện tại Việt Nam đang ở vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Năng lực sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam vừa đƣợc ADB xếp vào vị trí Top 5 nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới gồm Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Pakistan và Mỹ do 5 quốc gia này chiếm 87% thƣơng mại gạo toàn cầu. Trong khi đó, theo Hiệp hội Lƣơng thực Việt Nam (VFA), đến cuối tháng 10/2012, Việt Nam đã vƣơn lên vị trí thứ nhất về xuất khẩu gạo và ngành gạo đang nỗ lực để trong năm nay Việt Nam sẽ thay thế Thái Lan trở thành nƣớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Tính đến cuối tháng 10/2012, Việt Nam xuất khẩu đƣợc 5,949 triệu tấn gạo, thứ nhì là Ấn Độ 5,814 triệu tấn gạo, kế đến mới là Thái Lan 5,360 triệu tấn.