Chương 1: Giới thiệu cung về lý do, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thực hiện, kết cấu của đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến khởi nghiệp; thực trạng khởi nghiệp kinh doanh ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017 Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 5: Kết luận, nêu ra các điểm khác biệt cũng như những thiếu sót hạn chế của đề tài, khuyến nghị chính sách cho Việt Nam và các hướng nghiên cứu cần thực hiện trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ, THỊ TRƯỜNG TỰ DO VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÁC ĐỘNG ĐẾN KHỞI NGHIỆP 2. Tổng quan lý thuyết về Tinh thần khởi nghiệp 2. Khái niệm Theo nhà kinh tế học học Mỹ Peter F.
Drucker cho rằng tinh thần khởi nghiệp - tinh thần doanh nhân khởi nghiệp (entrepreneurship) được hiểu là hành động của doanh nhân khởi nghiệp – “người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế. Kết quả của những hành động này là tạo nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo lại những tổ chức đã ‘già cỗi’. Hình thức rõ ràng nhất của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp là bắt đầu xây dựng những doanh nghiệp mới. Đồng thời, Lê Tấn Phước (2016) cho rằng cụm từ “tinh thần doanh nhân khởi nghiệp” đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực bao gồm cả chính trị, xã hội.
Khi tinh thần doanh nhân khởi nghiệp được sử dụng để nói về các đơn vị hoặc tổ chức lớn, nó có nghĩa là xây dựng doanh nghiệp, bao gồm cả việc kinh doanh mạo hiểm. Theo như Shane và Ventakaraman (2000) tinh thần khởi nghiệp được chấp nhận rộng rãi là các hoạt động liên quan đến sự phát hiện, đánh giá và khai thác các cơ hội để tạo ra các hàng hóa và dịch vụ mới, các phương thức quản lý, quy trình sản xuất mà trước giờ chưa hiện hữu. Trong khi đó, Eckhardt and Shane (2003) đề cập đến tinh thần khởi nghiệp thông qua hai hoạt động chính là thành lập doanh nghiệp mới và tự làm chủ. Để đánh giá ảnh hưởng của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp đối với nền kinh tế, quan niệm được các nhà nghiên cứu (Baumol, 1993; Schaltegger and Wagner, 2011; Alegre and Chiva, 2013) trích dẫn nhiều về tinh thần khởi nghiệp là ý tưởng của Schumpeter (1934) rằng người khởi nghiệp chính là những nhà đổi mới, thực hiện sự thay đổi trong thị trường thông qua: (i) giới thiệu hàng hóa và dịch vụ mới, (ii) phương thức sản xuất mới, (iii) tạo ra thị trường mới, (iv) nguồn cung nguyên liệu mới hay (v) thành lập tổ chức mới.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tinh thần khởi nghiệp được xem là một trong những động lực chính cho phát triển kinh tế và tạo ra sự thịnh vượng cho quốc gia (Pines và cộng sự, 2005; Audretsch và cộng sự, 2006). Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, tinh thần khởi nghiệp không chỉ được đánh giá qua tiêu chí thành lập doanh nghiệp mới do chính cá nhân đó làm chủ mà còn liên quan đến tinh thần đổi mới khi nắm bắt và khởi xướng để phát triển một ngành dịch vụ hay sản phẩm mới ở một công ty hiện hành. Thông thường, yếu tố tinh thần khởi nghiệp được khởi xướng để phát triển một sản phẩm, dịch vụ hiện có khó được định lượng, đây cũng là khía cạnh còn khuyết trong bài nghiên cứu này khi không tìm thấy các tài liệu trước đây để sử dụng đo lường biến tinh thần khởi nghiệp. Tiêu chí đo lường tinh thần khởi nghiệp Như đã trình bày, tinh thần khởi nghiệp không chỉ bó gọn trong khái niệm là bắt đầu kinh doanh mà còn hàm chứa sự khuyến khích, kích thích niềm đam mê sáng tạo kinh doanh để phát triển một ngành dịch vụ hay sản phẩm mới ở một công ty hiện hành.
Do vậy, vấn đề đo lường, định lượng tinh thần khởi nghiệp là hết sức khó khăn, hiện nay có nhiều chỉ số sử dụng để đo lường tinh thần khởi nghiệp do các tổ chức trên thế giới xây dựng, trong đó nổi bật là: Đầu tiên, Chỉ số TEA (Total Early-stage Entrepreneurial Activity) là tỷ lệ các hoạt động kinh doanh ở giai đoạn khởi sự theo khảo sát GEM được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây để đo lường tinh thần khởi nghiệp của các quốc gia. TEA đo lường tỷ lệ các cá nhân trong độ tuổi lao động tích cực tham gia khởi sự doanh nghiệp, bao gồm: các hoạt động kinh doanh đang khởi sự (dưới 3 tháng) và các hoạt động kinh doanh mới khởi sự thành công (dưới 3. Phương pháp này đã được sử dụng trong nghiên cứu của Acs và Varga (2005), Bjørnskov và Foss (2007), Aidis và cộng sự (2008), Anokhin và Schule (2008), Dreher và Gassebner (2013). Thứ hai, chỉ số Tinh thần khởi nghiệp (Entrepreneurship Indicators Project) do OECD đề xuất bao gồm các tiêu chí đo lường tinh thần khởi nghiệp của một quốc gia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thông qua: tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp, tỷ lệ hoạt động kinh doanh cá thể, tỷ lệ sống sót của các doanh nghiệp thông qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới và đóng cửa hàng năm,…Tùy vào mục tiêu nghiên cứu của tác giả, mà các chỉ tiêu do OECD đề xuất có thể được điều chỉnh và lựa chọn cách tiếp cận để giúp việc đo lường tinh thần khởi nghiệp được hiệu quả hơn.
Có nhiều nghiên cứu sử dụng các tiêu chí của OECD để đo lường tinh thần khởi nghiệp, phải kể đến Estrin và Mickiewiccz (2010) đã đo lường tinh thần khởi nghiệp bằng tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp và tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng cao trong 5 năm tới; Avnimelech và cộng sự (2011) thu thập số lượng doanh nhân mới trên tổng dân số để đo lường tinh thần khởi nghiệp; Tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới tính trên 1.000 dân số cũng được Santarelli và Tran (2012) xem xét để đại diện cho tinh thần khởi nghiệp; ngoài ra còn có Kshetri và Dholakia (2011) xem xét yếu tố nhận thức khả năng kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân để đo lường tinh thần khởi nghiệp. Ngoài ra, các quốc gia ở Châu Âu đo lường tinh thần khởi nghiệp thông qua ngân sách chi cho đổi mới sáng tạo hàng năm. Jaumotte và Pain (2005), Shanks và Zheng (2006) đã sử dụng tiêu chí chi tiêu cho hoạt động R&D để đo lường đánh giá hoạt động đầu tư phát triển tinh thần khởi nghiệp. Do các đặc điểm biểu hiện cho tinh thần khởi nghiệp bên trong công ty để sáng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới khó có thể đo lường được, để lượng hóa tinh thần khởi nghiệp và thuận tiện trong việc thu thập số liệu, tác giả kế thừa theo nghiên cứu của Echeverry và cộng sự (2013), đo lường tinh thần khởi nghiệp thông qua “số lượng công ty thành lập mới tính trên 1.000 người ở độ tuổi lao động” được thu thập từ “World Bank Entrepreneurship Snapshots” của World Bank.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tinh thần khởi nghiệp: 2. Khởi nghiệp và chất lượng thể chế Trong phần này, tác giả xem xét mối quan hệ giữa chất lượng thể chế đối với tinh thần khởi nghiệp thông qua các nghiên cứu trước đây. Đã có các nghiên cứu của các nhà khoa học hiện đại (Mudambi và Navarra, 2002; Hodgson, 2006) sử dụng cách tiếp cận của North (1990) về chất lượng thể chế.
Theo North (1990) định nghĩa thể chế là những hạn chế chính thức và không chính thức do con người tạo ra để thiết lập trật tự chung của loài người. Các hình thức thể chế chính thức đề cập chủ yếu đến hiến pháp, các quy chế, quy tắc và quy định của chính phủ được cơ chế hóa và thực thi pháp luật; quan trọng nhất là nhà nước có quyền lực và khả năng cưỡng chế. North (1990) cũng cho rằng hình thức thể chế không chính thức bao gồm các quy tắc về truyền thống, các quy tắc ứng xử và các cơ chế xã hội được thực thi thông qua quan hệ giữa các cá nhân. Về mặt kinh tế, những quy tắc này tồn tại để tạo thuận lợi cho việc trao đổi, tăng sự tự tin giữa người tham gia kinh doanh và giảm chi phí giao dịch.
Chất lượng thể chế phản ánh trình độ chính trị, bản chất chính trị của quốc gia và đó cũng là cơ sở để xã hội quyết định lựa chọn hoặc không lựa chọn nhà cầm quyền. Williamson (2000) đã mở rộng định nghĩa này và cho rằng sự tồn tại của các thực thể có tổ chức, các thủ tục pháp lý và cơ cấu pháp lý được xác định là các tham số trong mỗi xã hội. Thêm vào đó, Sautet (2005) cho rằng chất lượng thể chế quan trọng đối với hiệu quả hoạt động kinh tế. Để hiểu được hoạt động của các nền kinh tế, người ta phải nhìn vào bản chất của các thể chế chính thức (ví dụ như Hiến pháp Hoa Kỳ được công khai minh bạch) và không chính thức (ví dụ các quy tắc ứng xử lịch sự tối thiểu đối với người cao tuổi) hoạt động ra sao vì các quy tắc này ảnh hưởng đến loại hình hoạt động kinh doanh diễn ra.
Do vậy, tồn tại mối tương quan giữa thể chế và tinh thần khởi nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Nghiên cứu khác của Hodler (2009) cho rằng bảo vệ quyền sở hữu là nền tảng cho quá trình khởi nghiệp vì nó cho phép các doanh nhân tận hưởng thành quả lao động của mình Một mặt, các nhà đầu tư có thể có một nỗi sợ hãi rằng họ có thể không hồi phục bất cứ điều gì nếu một doanh nhân hành động một cách cơ hội hoá. Mặt khác, các doanh nhân có thể lo sợ rằng ý tưởng của họ có thể bị đánh cắp bởi một nhà đầu tư khác có nguồn tài chính mạnh mà không hề đóng góp vào sự nghiệp. Như vậy, khi quyền sở hữu được đảm bảo thì thúc đẩy phát triển kinh tế.
Ngược lại, bảo vệ quyền sở hữu kém gây cản trở tăng trưởng kinh tế, ngăn cản các cá nhân khởi nghiệp và làm giảm sự tham gia của họ trong các dự án phát triển trong tương lai (Parker, 2007).