Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Tổng quan về tình hình FDI trên thế giới Sự xuất hiện của FDI được xem như là động lực cho sự hội nhập kinh tế toàn cầu kể từ thế kỷ XIX. Theo sau sự suy thoái của dòng vốn quốc tế trong nửa đầu thế kỷ XX, FDI bắt đầu tăng trưởng trong giai đoạn hậu chiến tranh do nhu cầu tái thiết lại của các quốc gia trên thế giới. Thập niên 70 là bằng chứng cho dòng FDI thấp hơn, nhưng xu hướng mở rộng tự do và toàn cầu hóa dẫn đến một sự gia tăng FDI sau thập niên 80.
Sự gia tăng quan trọng nhất của dòng FDI xảy ra vào đầu thập niên 90; hàng năm dòng FDI trên khắp thế giới gia tăng hơn 200 tỷ đô la Mỹ sau năm 1992, trong khi chỉ khoảng 55 tỷ đô la vào đầu thập niên 80. Xu hướng gia tăng này tiếp tục sau thập niên 90, ngoại trừ sự giảm xuống giữa năm 2000 và 2004, đạt đến 1970 tỷ đô la Mỹ trong năm 2007, bắt đầu từ giữa năm 2008 thì giảm xuống do khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn 1200 tỷ đô la Mỹ trong năm 2009, và phục hồi trong năm 2010 và 2011 với mức 1500 tỷ đô la Mỹ (UNCTAD, 2012). Mody, sự dâng tràn của dòng FDI toàn cầu sau thập niên 90 là một sự chuyển giao lớn phản ánh lại bao gồm cả nhu cầu đầu tư gia tăng của các nhà đầu tư tìm kiếm các cơ hội lợi nhuận cao và sự thu hút từ các quốc gia đang phát triển tìm kiếm nhu cầu về đầu tư và công nghệ (Mody, 2007). Thảo luận hàn lâm về các tác động tích cực và tiêu cực có thể có của FDI đến sự tăng trưởng, năng lực sản xuất, đầu tư nội địa, cơ cấu việc làm, cán cân thanh toán, dòng thương mại quốc tế và công nghệ của quốc gia nhận đầu tư hiếm khi có liên quan đến những người lập chính sách trong những rủi ro tiềm ẩn của dòng FDI vào, và sau khoảng đầu thập niên 90, việc sử dụng những biện pháp mang tính khuyến khích tại địa phương nhằm thu hút FDI đã được mở rộng một cách đáng kể về tần suất cũng như giá trị (UNCTAD, 2003).
Nhiều quốc gia có kế hoạch hoặc đã thực thi chính sách thu hút FDI nhằm mục đích sử dụng các nguồn lực của họ có hiệu quả hơn, hoặc tạo ra việc sử dụng các nguồn lực nhàn rỗi mà đã không được sử dụng gần đây, và với động cơ thúc đẩy cải thiện cấu trúc cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia, tạo ra việc làm, tạo ra việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 sử dụng công nghệ cao hơn hoặc tiến tới các thị trường quốc tế. Tuy vậy, các quốc gia thường có hai vấn đề liên quan tới dòng FDI đi vào mà họ sẽ đón nhận. Thứ nhất là lo ngại về khối lượng, loại hình, và việc sử dụng những nguồn lực được chuyển giao, bởi FDI có thể mang lại ít lợi ích hơn một phương pháp lựa chọn phân bổ nguồn lực. Thứ hai, họ băn khoăn về việc các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại nước họ sẽ có nhiều sức mạnh thỏa thuận mua bán và có lợi thế cạnh tranh tốt hơn các doanh nghiệp nội địa (Dunning, 1981).
Ngoài những vấn đề này, cũng có một cuộc tranh luận về việc FDI sẽ khuyến khích hay thay thế cho đầu tư nội địa. Theo các giả thuyết tích cực, FDI được cho là sẽ thúc đẩy đầu tư nội địa bởi vì FDI vào sẽ dẫn đến lượng đầu tư nội địa mới hoặc cao hơn nếu các nguồn đầu tư nội địa là có sẵn, điều này không thể xảy ra nếu không có FDI. Từ một nghiên cứu năm 1993 của Romer về mô hình tăng trưởng nội sinh, việc đưa ra sản phẩm mới cho nền kinh tế đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển, đã được chấp nhận một cách rộng rãi. Do đó FDI được cho là sẽ góp phần vào chi phí đầu tư của quốc gia chủ nhà thông qua việc đưa ra các sản phẩm và công nghệ mới.
Tuy nhiên, khi một quốc gia tiếp nhận dòng vốn FDI từ nước ngoài, nếu như các nhà đầu tư nội địa không đủ sức cạnh tranh hoặc tiếp nhận công nghệ, kỹ năng,… mà các công ty đa quốc gia mang vào, họ sẽ nhanh chóng bị thay thế và do đó, làm giảm đầu tư nội địa. Một số các nghiên cứu lý thuyết gần đây đưa ra kết quả là, mức độ mà các công ty trong nước thu được lợi ích từ những tác động lan tỏa này phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của các công ty nội địa. Franseca Sanna-Randacio (1999) và D.Leahy và Peter Neary (1999) cho rằng, FDI thường dẫn đến một gia tăng trong năng suất của công ty nhận đầu tư, tuy nhiên, FDI chỉ làm tăng năng suất của nước chủ nhà khi mức độ lan tỏa công nghệ là đủ cao. Việc tăng năng suất nhờ vào lan tỏa công nghệ có nhiều khả năng đạt được hơn trong những khu vực được biểu thị bởi hoạt động nghiên cứu và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phát triển mạnh mẽ hoặc bởi các công ty có trình độ về mặt tri thức thích hợp để bắt đầu.
Điều này đã được đưa ra trong nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Ari Kokko (1994) và Borensztein, De Gregorio và Lee (1998) cung cấp bằng chứng về những tác động lan tỏa tích cực của FDI đến các công ty nội địa chỉ được tạo ra khi chênh lệch về công nghệ giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nội địa là không quá lớn và tại đó tồn tại ngưỡng tối thiểu của nguồn nhân lực của quốc gia chủ nhà. Lý thuyết về tác động của FDI lên đầu tƣ nội địa 2. Lý thuyết về tác động lan tỏa tích cực Theo các lý thuyết kinh tế, có hai cách tiếp cận để nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đầu tư nội địa.
Các tiếp cận thứ nhất là dựa theo lý thuyết thương mại quốc tế tiêu chuẩn. Đây là cách tiếp cận so sánh tĩnh cân bằng từng phần nhằm xem xét các gia tăng biên do đầu tư nước ngoài được phân phối như thế nào. Giả thiết chính của mô hình này là các dòng vốn đầu tư nước ngoài, dù dưới dạng đầu tư trực tiếp hay đầu tư tài chính chứng khoán, sẽ làm tăng sản phẩm biên của lao động và giảm sản phẩm biên của vốn ở nước chủ nhà. Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng FDI có thể có mối liên kết với những lợi ích tiềm năng quan trọng khác, đặc biệt là lợi ích do đầu tư tư nhân nhiều hơn thay vì ít hơn từ nước ngoài có thể là doanh thu thuế cao hơn thu từ lợi nhuận của nước ngoài, thông qua lợi thế kinh tế theo quy mô và thông qua lợi thế kinh tế bên ngoài nói chung, nhất là trong trường hợp các doanh nghiệp trong nước tiếp thu bí quyết hoặc do sự thúc ép của cạnh tranh từ nước ngoài buộc các doanh nghiệp trong nước phải áp dụng những phương pháp hiệu quả hơn (MacDougall, 1960).
Cách tiếp cận còn lại xuất phát từ lý thuyết tổ chức công nghiệp, và Hymer (1960) là người đưa ra trước tiên. Ở đây, điểm xuất phát là đặt câu hỏi tại sao các hãng lại tiến hành đầu tư ở nước ngoài để sản xuất cùng những hàng hóa mà họ sản xuất tại nước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Câu trả lời được đưa ra như sau: “Để cho đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển mạnh phải có một mức độ không hoàn hảo nhất định trong các thị trường hàng hóa hay nhân tố sản xuất, kể cả công nghệ, hoặc một mức độ can thiệp nhất định của Chính phủ hoặc của các hãng vào môi trường cạnh tranh, điều này làm các thị trường tách biệt” (Kindleberger, 1969). Như thế, để có thể đầu tư sản xuất ở các thị trường nước ngoài, một hãng phải nắm giữ các tài sản nhất định (chằng hạn như sản phẩm, công nghệ sản xuất hoặc các kỹ năng về quản lý và tiếp thị) mà có thể được sử dụng để tạo lợi nhuận tại công ty thành viên ở nước ngoài.
Các hãng đầu tư ở nước ngoài vì thế đại diện cho một loại hình doanh nghiệp đặc biệt và những tính chất đặc biệt đó là điểm mấu chốt khi phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên các nước đang phát triển. Sự tham gia của một công ty đa quốc gia mang nhiều ý nghĩa hơn là chỉ đơn giản nhập khẩu vốn vào một quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư từ nước ngoài. Sự đặc biệt này là khá quan trọng với các quốc gia đang phát triển, nơi mà các doanh nghiệp trong nước thông thường là tương đối nhỏ, yếu và lạc hậu về công nghệ. Những quốc gia này còn khác với các quốc gia phát triển về các mặt như quy mô thị trường, mức độ bảo hộ, và kỹ năng chuyên môn.
Sự tham gia của các công ty con của các công ty đa quốc gia vào các nước kém phát triển có thể sẽ tạo ra các tác động, cả tích cực lẫn tiêu cực, khác biệt rất lớn so với những tác động xảy ra khi nước tiếp nhận là quốc gia phát triển. Mặc dù hai cách tiếp cận theo lý thuyết thương mại truyền thống và tổ chức công nghiệp không có tính loại trừ lẫn nhau, cho đến ngày nay hai cách tiếp cận này vẫn nhấn mạnh vào các khía cạnh khác nhau của các dòng dịch chuyển vốn. Các nhà lý thuyết thương mại vẫn quan tâm chủ yếu đến các tác động trực tiếp của đầu tư nước ngoài (đầu tư trực tiếp cũng như đầu tư tài chính chứng khoán) lên các nhân tố sản xuất, công ăn việc làm, và các dòng vốn, trong khi những người theo cách tiếp cận tổ chức công nghiệp vẫn nhấn mạnh nhiều hơn đến các tác động gián tiếp hay các ngoại tác. Đề cập trong nghiên cứu này là cách tiếp cận tổ chức công nghiệp, tập trung vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 những vấn đề liên quan đến sự chuyển giao và lan tỏa của công nghệ và tri thức, cũng như tác động của FDI lên cơ cấu thị trường và cạnh tranh ở các nước chủ nhà.