Luận án ảnh hưởng từ dự toán sản xuất kinh doanh tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa việt nam

Khám phá ảnh hưởng của dự toán sản xuất kinh doanh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong bài luận án này.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

174
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Đặt vấn đề

0.2. Sự cần thiết của nghiên cứu

0.3. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.5.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

0.5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

0.5.2.1. Nghiên cứu định lượng sơ bộ
0.5.2.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

0.6. Mẫu nghiên cứu

0.7. Kỹ thuật và công cụ phân tích

0.8. Những đóng góp mới của luận án

0.8.1. Những đóng góp trên phương diện lý luận

0.8.2. Những đóng góp trên phương diện thực tiễn

0.9. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã trở thành một phần không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế. Theo báo cáo của VCCI, DNNVV chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp, đóng góp 40% vào tổng sản phẩm quốc nội và tạo ra hơn một nửa số việc làm cho xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều, với tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm ưu thế nhưng lại có hiệu quả hoạt động thấp. Tình trạng thua lỗ vẫn diễn ra phổ biến, với 42,3% doanh nghiệp gặp khó khăn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện hiệu quả doanh nghiệp thông qua các công cụ quản lý như dự toán sản xuất.

1.1. Đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam

DNNVV tại Việt Nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, chiếm 68% tổng số doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm 1%, phản ánh sự thiếu hụt trong việc khai thác tiềm năng của nền kinh tế nông nghiệp. Các chỉ tiêu tài chính như ROA, ROE, và ROS của DNNVV đều ở mức thấp, cho thấy sự yếu kém trong quản lý và quản lý sản xuất. Việc áp dụng dự toán sản xuất có thể giúp cải thiện tình hình này bằng cách cung cấp một khung quản lý rõ ràng và hiệu quả hơn.

II. Tác động của dự toán sản xuất đến hiệu quả doanh nghiệp

Dự toán sản xuất không chỉ là công cụ lập kế hoạch mà còn là phương tiện đánh giá và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Theo Kaplan (1991), dự toán giúp doanh nghiệp thích ứng với biến động môi trường kinh doanh và tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực. Raj (2008) nhấn mạnh rằng dự toán có vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực phù hợp với mục tiêu cụ thể. Việc lập kế hoạch trong dự toán giúp các nhà quản lý đảm bảo sự phối hợp giữa các bộ phận, từ đó nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng những DNNVV áp dụng dự toán một cách hiệu quả có khả năng đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn.

2.1. Vai trò của dự toán trong quản lý doanh nghiệp

Dự toán sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và điều tiết hoạt động của DNNVV. Nó không chỉ giúp doanh nghiệp lập kế hoạch mà còn là công cụ để đánh giá hiệu quả hoạt động. Việc sử dụng dự toán giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính và hoạt động sản xuất, từ đó đưa ra các quyết định kịp thời. Nghiên cứu cho thấy rằng DNNVV có quy trình lập dự toán rõ ràng thường có hiệu quả hoạt động cao hơn so với những doanh nghiệp không áp dụng dự toán. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng dự toán sản xuất trong quản lý doanh nghiệp.

III. Đánh giá hiệu quả của dự toán sản xuất trong DNNVV

Đánh giá hiệu quả của dự toán sản xuất trong DNNVV là một vấn đề quan trọng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc áp dụng dự toán có thể cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc đo lường mức độ ảnh hưởng cụ thể của dự toán đến các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Việc nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ này sẽ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về cách thức tối ưu hóa việc sử dụng dự toán để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí, và lợi nhuận cần được xem xét kỹ lưỡng trong bối cảnh áp dụng dự toán.

3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

Các chỉ tiêu tài chính như doanh thu, chi phí, và lợi nhuận là những yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của DNNVV. Nghiên cứu cho thấy rằng DNNVV áp dụng dự toán có khả năng đạt được các chỉ tiêu này tốt hơn. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu phi tài chính như sự hài lòng của khách hàng và năng suất lao động cũng cần được xem xét. Việc áp dụng dự toán sản xuất không chỉ giúp cải thiện các chỉ tiêu tài chính mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Như đã giới thiệu trong tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, dự toán sản xuất kinh doanh là một trong những công cụ quen thuộc được sử dụng trong hoạt động quản trị kinh doanh. Dự toán cũng là công cụ tổng hợp thực hiện đồng thời nhiều chức năng từ lập kế hoạch, kiểm soát, truyền thông, phối hợp và đánh giá kết quả hoạt động của từng cá nhân, từng bộ phận cũng như tổng thể toàn doanh nghiệp (Horngren, 1977). Theo tác giả, khi dự toán ngân sách của doanh nghiệp được chuẩn bị tốt, những thông tin mà nó cung cấp sẽ nâng cao hiệu quả truyền thông, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong tổ chức và đặc biệt hữu ích đối với việc đánh giá kết quả hoạt động. Trên thực tế, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã và đang tìm hiểu về mối quan hệ giữa dự toán sản xuất kinh doanh với kết quả hoạt động trong doanh nghiệp.

Điển hình như những nghiên cứu từ khá sớm của Argyris (1952), Milani(1975), Kenis (1979), Brownell and Mc Innes (1983), Kren (1990) và gần đây là nghiên cứu của Qi (2010), Lu (2011), Jamil (2015). Tuy nhiên trong mỗi nghiên cứu, các tác giả lại tập trung khai thác những khía cạnh khác nhau của dự toán sản xuất kinh doanh. Điều này làm cho những nghiên cứu liên quan tới ảnh hưởng từ dự toán tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp rất phong phú về cách tiếp cận cũng như kết quả nghiên cứu. Hơn thế nữa sự thay đổi trong đo lường kết quả hoạt động hay sự ra đời của những phương pháp nghiên cứu mới cũng tạo nên khoảng trống cho những nghiên cứu thuộc chủ đề trong những năm gần đây.

Do đó nội dung tổng quan nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước liên quan tới đề tài luận án sẽ được tiếp cận trên cơ sở các khía cạnh cơ bản của dự toán sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Cùng với đó, tác giả cũng phân tích sâu hơn về phương thức đo lường kết quả hoạt động và phương pháp nghiên cứu trong mỗi nội dung cụ thể. Ảnh hưởng từ sự rõ ràng của mục tiêu dự toán Theo Yuen (2004), sự rõ ràng của mục tiêu dự toán (Budget goal clarity) là việc mục tiêu này có được diễn đạt đủ rành mạch, cụ thể và chi tiết để đảm bằng rằng nhà quản lý có trách nhiệm hiểu được và thực hiện được mục tiêu. Tương tự như vậy, Kenis (1979) cho rằng sự rõ ràng của mục tiêu dự toán được biểu thị bằng việc các nhà quản lý bộ phận có thể hiểu được những tuyên bố của cấp trên về các mục tiêu mà họ cần thực hiện.

Cũng theo Kenis (1979) mức độ rõ ràng của mục tiêu được biểu hiện bằng việc nhà quản lý bộ phận có thể trả lời được hai câu hỏi cơ bản: 10 (1) Nhiệm vụ được giao là gì? (2) Cần làm những gì để thực hiện được mục tiêu được giao? Trong những nghiên cứu tiền nhiệm về mối quan hệ giữa dự toán và kết quả hoạt động của doanh nghiệp thì sự rõ ràng của mục tiêu dự toán là một trong những vấn đề thường xuyên được tìm hiểu. Tồn tại không ít những nghiên cứu trong nhiều năm qua đã tìm hiều và chỉ ra mối quan hệ có ý nghĩa giữa sự rõ ràng của mục tiêu dự toán và kết quả hoạt động doanh nghiệp như nghiên cứu của Kenis (1979), Hirst (1981 và 1987); Yuen (2004); Ivancevich and Mc Mahon (1982). Sự tồn tại hướng nghiên cứu về ảnh hưởng từ sự rõ ràng của mục tiêu dự toán tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp đều xuất phát từ chức năng lập kế hoạch của dự toán. Dự toán là một công cụ quản lý tổng hợp và chức năng đầu tiên của dự toán đó là lập kế hoạch.

Nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp có thể đưa ra các mục tiêu kinh doanh nhưng để thực hiện được những mục tiêu đó, chúng phải được cụ thể hóa thành những chỉ tiêu tài chính một cách rõ ràng, chi tiết cho từng cá nhân, từng bộ phận trong doanh nghiệp. Đó chính là chức năng lập kế hoạch trong dự toán sản xuất kinh doanh. Việc quản lý các cá nhân, các bộ phận dựa trên các chỉ tiêu dự toán vẫn là phương thức được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp. Chính vì vậy việc mô tả mục tiêu dự toán rõ ràng thực sự ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động.

Nếu mục tiêu dự toán được thiết kế rõ ràng có thể làm cho quá trình thực hiện các mục tiêu dễ dàng hơn, thúc đẩy động lực làm việc đối với các nhà quản lý. Ngược lại, nhà quản lý khó có thể thực hiện được những mục tiêu dự toán được mô tả một cách mơ hồ. Điển hình như nghiên cứu của Kenis (1979) đã khẳng định cho luận điểm này. Cụ thể, trong nghiên cứu của mình, Kenis (1979) thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đối với 500 nhà quản lý từ các công ty sản xuất tại thành phố Philadenphia, Mỹ trong đó 298 phiếu trả lời được thu thập.

Bằng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính từ dữ liệu thu thập được, tác giả chỉ ra rằng mục tiêu dự toán càng được thiết kế rõ ràng thì kết quả hoạt động càng tăng. Trong đó mức độ rõ ràng của mục tiêu dự toán được đo lường thông qua nhận định của các nhà quản lý đối với khả năng hiểu nội dung, thứ tự ưu tiên và cách thức thực hiện mục tiêu theo mức độ từ 1- Rất không đồng ý tới 5-. Tương tự như vậy kết quả hoạt động cũng được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ từ thấp tới cao đối với thái độ chấp hành dự toán (Moncur,1975); động lực hoạt động từ dự toán (Hackman,1971); cảm giác hài lòng với công việc (Smith,1969); thái độ tham gia vào dự toán (Kahn,1964) và đặc biệt là mức độ đạt được mục tiêu dự toán do chính tác giả phát triển. 11 Kết quả nghiên cứu của Kenis (1979) cũng được ủng hộ trong rất nhiều nghiên cứu đi sau như Simon (1997), Qi (2010), Lu (2011), Faith (2013) và Jamil (2015).

Cụ thể nghiên cứu của Qi (2010) thực hiện trên các DNNVV tại Trung Quốc, quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi cũng cho kết quả tương tự. Dựa trên kết quả phân tích hồi quy đối với dữ liệu thu thập từ 75 phiếu trả lời của các nhà quản lý DNNVV tại ba tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và Quảng Đông, nghiên cứu chỉ ra rằng sự rõ ràng của mục tiêu dự toán càng cao thì khả năng đạt được mục tiêu dự toán càng lớn cũng như sự hài lòng với công việc của nhà quản lý càng cao. Tuy nhiên những nghiên cứu đi sau đã mở rộng hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Kenis (1979) trên phương diện đo lường kết quả hoạt động. Điển hình như nghiên cứu của Jamil (2015) đã bổ sung tốc độ tăng doanh thu và tốc độ tăng lợi nhuận khi đo lường kết quả hoạt động trong mỗi quan hệ với sự rõ ràng của mục tiêu dự toán.

Kết quả nghiên cứu của Jamil (2015) thực hiện đối với 68 doanh nghiệp có quy mô nhỏ tại Ấn Độ cho thấy sự rõ ràng của mục tiêu dự toán càng cao thì tốc độ tăng doanh thu và tốc độ tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp càng lớn. Trong khi đó nghiên cứu của Faith (2013) lại sử dụng tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA) khi đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp trên khía cạnh tài chính và cũng tìm thấy mối quan hệ thuận chiều với sự rõ ràng của mục tiêu. Theo một cách tiếp cận khác, những nghiên cứu của Yuen (2004) lại chỉ ra rằng sự rõ ràng của mục tiêu dự toán còn ảnh hưởng gián tiếp tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp và của nhà quản lý thông qua việc hạn chế sự phát sinh dự toán lỏng. Trong đó dự toán lỏng là việc các nhà quản lý bộ phận cố tình điều chỉnh cho các mục tiêu dự toán trở nên dễ dàng hơn bằng cách hạ thấp các chỉ tiêu kết quả cũng như nâng cao các chỉ tiêu về nguồn lực sử dụng (Dunk, 1993).

Sự hình thành dự toán lỏng sẽ làm giảm động lực làm việc của các nhà quản lý và tác động tiêu cực tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Yuen, 2004). Cụ thể, khi thực hiện nghiên cứu đối với các nhà quản trị khách sạn tại Macau, bằng phương pháp hồi quy tác giả đã chỉ ra rằng sự rõ ràng của mục tiêu dự toán là một trong những yếu tố tác động mạnh và ngược chiều tới khuynh hướng phát sinh dự toán lỏng trong quản lý với hệ số Beta là -0. Điều đó có nghĩa rằng mục tiêu dự toán càng rõ ràng thì khả năng phát sinh dự toán lỏng càng thấp (Yuen, 2004). Như vậy nghiên cứu về ảnh hưởng từ sự rõ ràng của mục tiêu dự toán tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp và kết quả hoạt động của nhà quản lý là một trong những hướng nghiên cứu được thực hiện khá phổ biến.

Tại đó sự đa dạng trong đo lường kết quả hoạt động là cơ sở tạo nên sự khác biệt giữa các nghiên cứu theo hướng này. Bên cạnh những nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng trực tiếp từ sự rõ ràng 12 của mục tiêu dự toán tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Kenis, 1979), cũng có những nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng gián tiếp thông qua khuynh hướng sử dụng dự toán lỏng (Yuen, 2004). Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính là phương pháp phân tích được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu tiền nhiệm để chỉ ra mối liên hệ giữa sự rõ rằng của mục tiêu dự toán với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Song phương pháp này không chỉ rõ mối liên hệ giữa sự rõ ràng của mục tiêu dự toán với biến nghiên cứu khác cùng tác động tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Ảnh hưởng từ mức độ khó trong mục tiêu dự toán Song song với sự rõ ràng của mục tiêu dự toán, mức độ khó của mục tiêu cũng là khía cạnh được tìm hiểu rất nhiều trong những nghiên cứu về ảnh hưởng từ dự toán sản xuất kinh doanh tới kết quả hoạt động. Mức độ khó của mục tiêu dự toán (Budget goal difficulty) hay độ chặt của mục tiêu được biểu thị bằng nhận định của nhà quản lý bộ phận về việc họ cần sử dụng ít hay nhiều kỹ năng, thời gian, công sức để thực hiện được các mục tiêu đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ảnh hưởng của dự toán sản xuất kinh doanh tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam" tập trung vào việc phân tích tác động của việc lập dự toán sản xuất kinh doanh đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc lập dự toán không chỉ giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí mà còn nâng cao khả năng ra quyết định và tối ưu hóa nguồn lực. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Bài viết mang lại cái nhìn sâu sắc cho các nhà quản lý và chủ doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc lập kế hoạch và dự toán trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam", nơi phân tích năng suất lao động trong lĩnh vực ngân hàng, hay "Nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ bán lẻ hàng may mặc của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam", bài viết này cung cấp cái nhìn về năng lực cung ứng trong ngành bán lẻ. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường và ngành đào tạo ở bậc đại học", giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố quyết định trong quản trị và phát triển nguồn nhân lực. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.