phần mở đầu (10 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (6 trang), phụ lục (30 trang), phần nội dung luận văn (70 trang) chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên cứu. (17 trang) 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm liên quan 1. Du lịch Trong tiếng Việt, “du lịch” là từ gốc Hán, trong đó “du” là “đi chơi”, “lịch” là “trải nghiệm”.
Du lịch đƣợc hiểu là thực hiện một chuyến đi xa với mục đích vui chơi, thƣởng ngoạn, trải nghiệm cuộc sống, tìm hiểu thiên nhiên và văn hóa [9]. Tuyên bố Lahay (Hà Lan) về du lịch đã nêu: “Du lịch là một hoạt động cốt yếu của con ngƣời và của xã hội hiện đại. Bởi một lẽ du lịch đã trở thành một hình thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con ngƣời, đồng thời là phƣơng tiện giao lƣu trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời” [9].Pirojnic: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [51]. Theo Hunziker và Krapf: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tƣợng phát sinh trong các cuộc hành trình và lƣu trú của những ngƣời ngoài địa phƣơng, nếu việc lƣu trú đó không thành cƣ trú thƣờng xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời [9].
Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Canada năm 1991 đã đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động của con ngƣời đi tới một nơi ngoài nơi ở thƣờng xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian đƣợc các tổ chức du lịch quy định trƣớc, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [9]. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [40]. 15 Du lịch là lĩnh vực hoạt động rất đa dạng, phức tạp nên có nhiều cách phân loại khác nhau, tùy theo yếu tố phân loại nhƣ theo mục đích (tham quan, nghỉ ngơi, chữa bệnh,.), theo phạm vi lãnh thổ (trong nƣớc, quốc tế), theo địa bàn (biển, núi, nông thôn, đô thị), theo phƣơng tiện (bằng xe đạp, bằng xe ô tô, bằng máy bay, bằng tàu hỏa), theo thời gian (ngắn ngày, dài ngày), theo tính chất hoạt động (khám phá, mạo hiểm, chuyên đề, kết hợp), phân loại tổng hợp (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái). Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng khái niệm du lịch theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) và phân loại du lịch theo hƣớng tổng hợp (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái).
Văn hóa Theo các nhà nghiên cứu văn hóa ở Phƣơng Tây, thuật ngữ “văn hóa” có nguồn gốc từ tiếng La tinh là “culture” với nghĩa gốc chỉ sự trồng trọt, canh tác nông nghiệp. Sau đƣợc hiểu thành trau dồi, bồi dƣỡng giáo dục con ngƣời (trồng ngƣời). Trong thời kỳ cận hiện đại, văn hóa đƣợc sử dụng phổ biến để chỉ trình độ học vấn, tri thức [49]. Ở phƣơng Đông, văn hóa đƣợc hiểu nhƣ một khái niệm chỉ các phong tục tập quán, lễ hội, nhân cách, sáng tác nghệ thuật,… “Văn” có nghĩa gốc là làm cho đẹp hơn; “hóa” có nghĩa gốc là biến đổi, biến hóa [49].
Văn hóa là biến đổi cho đẹp hơn: làm đẹp ngôn từ trong văn học, làm đẹp trong trang trí, kiến trúc, nghệ thuật, làm đẹp trong lối sống,… Đẹp đã bao hàm trong nó cái “chân – thiện – mỹ”, có cả sự trung thực, sự tốt lành, ích lợi, hiệu quả. Trong quan niệm Mác-xít, văn hóa là những biến đổi của bản thân con ngƣời với tƣ cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con ngƣời; văn hóa xuất hiện từ lao động, hiện ra nhƣ một nhiệm vụ thực tiễn biến đổi các quan hệ qua lại giữa con ngƣời với thế giới và giữa con ngƣời với nhau. Con ngƣời không phải tự nhiên mà có văn hóa, văn hóa có đƣợc nhờ quá trình tu dƣỡng, tự kỷ luật với bản thân, chế ngự các bản năng tự nhiên, vốn có của con ngƣời. Văn hóa không chỉ có nghĩa là sự thay đổi của cái bên ngoài, cảnh quan tự nhiên nhờ con ngƣời mà nó trở thành cảnh quan văn hóa - mà còn đồng thời thay đổi cái tự nhiên bên trong, nhƣ là cái tự nhiên trong bản thân con ngƣời.
16 Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (1952) đã từng thống kê 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Với tƣ cách là tổ chức của Liên hiệp quốc về Văn hóa, UNESCO đã đƣa ra định nghĩa chính thức về văn hóa trong các công ƣớc quốc tế, với nỗ lực phổ quát hóa cách hiểu về văn hóa một cách chung nhất trên toàn cầu. Hiện nay, UNESCO đang nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng hơn, coi văn hóa nhƣ một phức thể, tổng thể các đặc trƣng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội. Theo UNESCO, văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Trong Tuyên bố Toàn cầu về Đa dạng văn hóa năm 2001, UNESCO định nghĩa văn hóa là “tập hợp những đặc trƣng về tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa chứa đựng, bên cạnh nghệ thuật và văn chƣơng, cả cách sống, phƣơng thức chung sống, các hệ thống giá trị, các tập tục và tín ngƣỡng”. Hồ Chí Minh trong quan niệm về văn hóa của mình đã khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [62]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã nêu rõ: Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cƣờng dựng nƣớc và giữ nƣớc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là kết quả giao lƣu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh trên thế giới để 17 không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Tóm lại, có thể hiểu, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống và không ngừng vƣơn tới cái Chân - Thiện - Mỹ, từ đó hình thành nên những sắc thái riêng của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.
Như vậy, văn hóa bao gồm tất cả những yếu tố cấu thành nên đời sống con người. Văn hóa không chỉ hàm ý ám chỉ đời sống tinh thần, văn hóa nghệ thuật, sinh hoạt tâm linh, tôn giáo. Văn hóa còn chính là sự ứng xử của con người với thiên nhiên, con người với con người và với cộng đồng rộng lớn. Văn hóa là phƣơng thức con ngƣời thể hiện những tri thức bản địa đã đƣợc đúc kết qua nhiều thế hệ, và những phƣơng thức sinh kế để con ngƣời tồn tại và phát triển.
Là sản phẩm do con ngƣời tạo ra, đƣợc hình thành và nuôi dƣỡng cùng với quá trình sống của loài ngƣời, và đến lƣợt nó, văn hóa lại chi phối, quyết định sự tồn tại, bản sắc và sự phát triển bền vững của một cộng đồng ngƣời. Văn hóa du lịch Bàn về thuật ngữ “văn hóa du lịch”, nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra các khái niệm, định nghĩa, cách hiểu khác nhau. Bùi Thanh Thủy dẫn theo Đổng Ngọc Minh, Vƣơng Lôi Đình (2001): “Văn hóa du lịch không phải là phép cộng đơn giản giữa văn hóa và du lịch mà là sự kết hợp giữa du lịch và văn hóa, là kết quả tinh thần và vật chất do tác động tƣơng hỗ lẫn nhau giữa 3 loại: nhu cầu văn hóa và tinh thần của chủ thể du lịch (du khách), nội dung và giá trị văn hóa của khách thể du lịch (là tài nguyên du lịch có thể thỏa mãn sự hƣởng thụ tinh thần và vật chất của ngƣời du lịch), ý thức và tố chất văn hóa của ngƣời môi giới phục vụ du lịch (hƣớng dẫn viên, thuyết minh viên, ngƣời thiết kế sản phẩm, nhân viên phục vụ…) sản sinh ra” [53]. Theo nhóm tác giả Trần Thúy Anh trong công trình Ứng xử văn hóa trong du lịch, thì văn hóa du lịch tạm hiểu là khái niệm về dân trí và quan trí, về thế ứng xử của ngƣời Việt Nam nói chung, ứng xử của các cán bộ công nhân viên ngành Du lịch nói riêng.
Khách du lịch họ muốn lòng hiếu khách, chủ nhà hồ hởi đón tiếp 18 khách, tạo cho khách mọi sự dễ dàng, không phiền nhiễu, từ khâu xuất nhập cảnh, đổi tiền, đi lại, ăn ở, dẫn khách tham quan, thuyết minh,. Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (2016): “Văn hóa du lịch là một bộ môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ ứng xử của các nhóm đối tƣợng: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cƣ và quản lý Nhà nƣớc liên quan đến du lịch thông qua việc tiếp cận, phát huy, thụ hƣởng và bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch” [44]. Trong nghiên cứu đề tài, tác giả đi theo định hƣớng khái niệm văn hóa du lịch của nhóm tác giả Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (2016).