Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài: Chương này tổng quan một số nghiên cứu liên quan đến đề tài, làm rõ các khái niệm công cụ và lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng sử dụng ĐTTM của học sinh THPT trên địa bàn: tập trung mô tả tình hình sử dụng ĐTTM của học sinh qua một số yếu tố: loại điện thoại sử dụng, thời gian sử dụng, mục đích sử dụng. Chương 3: Biến đổi tương tác xã hội của học sinh THPT trong quá trin ̀ h sử dụng ĐTTM. Chương này tập trung phân tích những tác động của việc sử dụng ĐTTM đến sự biến đổi tương tác của học sinh với gia đình và nhà trường.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm “ Điện thoại di động” và “Điện thoại thông minh” Điê ̣n thoa ̣i là di ̣ ch vu ̣ viễn thông đươ ̣c phát triể n rô ̣ng raĩ nhấ t , dịch vụ cung cấ p khả năng truyề n đưa thông tin dưới da ̣ng tiế ng nói hoă ̣c tiế ng nói cùng hình ảnh từ mô ̣t thuê bao tới mô ̣t hoă ̣c mô ̣t nhóm thuê bao. ĐTDĐ, hay còn gọi là điện thoại cầm tay, là thiết bị viễn thông liên lạc có thể sử dụng trong không gian rộng, phụ thuộc vào nơi phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Chất lượng sóng phụ thuộc vào thiết bị mạng và phần nào địa hình nơi sử dụng máy chứ ít khi bị giới hạn về không gian.
Tại thời kỳ phát triển hiện nay ĐTDĐ là một thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống. Thiết bị viễn thông này sử dụng được nhờ khả năng thu phát sóng. Ngoài chức năng thực hiện và nhận cuộc gọi, ĐTTM còn được tích hợp các chức năng khác như: nhắn tin, duyệt web, nghe nhạc, chụp ảnh, quay phim, xem truyền hình, kế t nố i ma ̣ng xã hô ̣i… Theo khảo sát ta ̣i Viê ̣t Nam của Google quý 1/2013 thì có 20% dân số của Viê ̣t Nam sử du ̣ng Smartphone. [44] ĐTTM có nhiều đặc điểm ưu việt trong sử dụng: + Giúp liên lạc dễ dàng với đối tượng khác khi đối tượng đó có phương tiện để kết nối như điện thoại, máy tính … + Liên lạc nhanh chóng, tiện lợi chỉ cần ở đó có sóng điện thoại, internet + Có thể được nghe giọng, nhìn hình ảnh trực tiếp của người đang nói chuyện với mình một cách chân thực, gần gũi + Có nhiều công cụ hỗ trợ liên lạc: nhắn tin, gọi điện, chat qua mạng xã hội, gửi email, tùy đối tượng có thể lựa chọn công cụ liên lạc nào cho phù hợp + Là công cụ giải trí hữu ích: có thể chơi game trên điện thoại, có thể nghe nhạc, có thể nói chuyện phiếm thông qua công cụ mạng xã hội, giúp giải tỏa căng thẳng + Là thiết bị cá nhân, được thiết kế nhỏ, gọn, tiện lợi khi di chuyển, dễ dàng sử dụng trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐTTM thường có mẫu mã đẹp, đa dạng về hình thức, kích thước, màu sắc.
Giá cả của một chiếc ĐTTM cũng đa dạng từ hàng giá rẻ đến cao cấp nên có khả năng phù hợp với rất đông người sử dụng. Bên cạnh khả năng nghe gọi, gửi tin nhắn văn bản, tin nhắn hình ảnh tiện lợi, ưu điểm trong tính năng sử dụng đầu tiên của ĐTTM có thể kể đến đó là khả năng kết nối internet, thông qua thiết bị di động cầm tay của mình, người sử dụng có thể kết nối với cả một mạng lưới rộng lớn trên toàn thế giới. Bên cạnh đó cùng mỗi hệ điều hành của ĐTTM đều tích hợp trong đó một kho ứng dụng khổng lồ. Khi có trong tay một chiếc ĐTTM có nghĩa là bạn có toàn quyền sử dụng kho ứng dụng ấy, trong đó có rất nhiều ứng dụng sử dụng tiện ích, dễ dàng và hoàn toàn miễn phí.
Khái niệm “Học sinh trung học phổ thông” Trong hê ̣ thố ng chỉ tiêu thố ng kê của Tổ ng cu ̣c thố ng kê thì khái niê ̣m ho ̣c sinh THPT là học sinh từ lớp 10 đến lớp 12. Tuổi của học sinh được tính theo năm, từ 15 tuổi đến 17 tuổi. Có thể hiểu học sinh THPT là thuật ngữ chỉ nhóm học sinh đầu tuổ i thanh niên từ (15 tuổ i đế n 17 tuổ i). Tuy nhiên giới ha ̣n tuổ i chỉ mang tin ́ h tương đố i, vì có thể có học sinh đi học muộn hơn tuổi quy định chung của nhà nước.
Căn cứ để xác đinh ̣ là ho ̣c sinh THPT tr ong nghiên cứu này là tấ t cả các ho ̣c sinh đang theo ho ̣c lớp 10, lớp 11, lớp 12 tại ba trường THPT Yên Thế và THPT Bố Hạ và THPT Mỏ Trạng. Tuổi học sinh THPT là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Ở tuổi đầu thanh niên, học sinh THPT vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự biểu hiện giống như lứa tuổi thiếu niên.
Tuy nhiên tính dễ bị kích thích ở tuổi thanh iên không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như lứa tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổi này. Sự phát triển của thể chất lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới những lựa chọn trong cuộc sống. Trong gia đình, lứa tuổi THPT đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn. Cha mẹ bắt đầu trao đổi với con cái ở lứa tuổi này về một số vấn đề quan trọng trong gia đình.
Học sinh lứa tuổi này bắt đầu quan tâm đến nề nếp, lối sống, sinh hoạt và điều kiện kinh tế của gia đình. Đây là lứa tuổi vừa học tập vừa lao động. Ở nhà trường, học tập vẫn là chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì cao hơn lứa tuổi thiếu niên. Lứa tuổi này đòi hỏi tính tự giác và độc lập hơn.
Trong giai 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn này, nhà trường có vị trí quan trọng, đây là nơi không chỉ trang bị tri thức mà còn tác động hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho mỗi học sinh. Các hoạt động của học sinh THPT lúc này chịu ảnh hưởng của xã hội rất mạnh. Khi tiếp cận với công nghệ hiện đại như ĐTTM, máy vi tính…học sinh THPT có cơ hội tiếp cận với nhiều thông tin, nhiều đối tượng khác nhau góp phần làm tăng thêm vốn xã hội, tăng cơ hội hòa nhập vào cuộc sống, giúp tích lũy kinh nghiệm, vốn sống cho bản thân. Khái niệm “Tác động” Theo từ điển tiếng việt, tác động được hiểu là làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định [17, tr 851].
Tác động có thể như dự định hoặc không như dự định; có thể là những tác động tích cực hoặc tiêu cực; có thể đạt được ngay hoặc đạt được sau một thời gian nhất định; và có thể kéo dài hoặc không kéo dài. Tác động có thể quan sát được, đo đếm được trong suốt quá trình thực thi, khi dự án kết thúc hoặc sau một thời gian khi kết thúc dự án. Trong nghiên cứu, có ba loại tác động được đánh giá đó là: Tác động dương tính: Là những tác động dẫn đến hậu quả có lợi, phù hợp về mặt mục tiêu đã đề ra. Tác động âm tính: Là những tác động dẫn đến hậu quả bất lợi, đi ngược lại với mục tiêu đã đề ra.
Tác động ngoại biên: Là những tác động dẫn đến những hậu quả ngoài mục tiêu đã dự kiến [8, tr 257]. Khái niệm “Tương tác xã hội” 1. Khái niệm “Tương tác xã hội có thể được coi là quá trình hành động và hành động đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác”[5, tr 145]. Theo khái niệm này, hiểu một cách đơn giản thì tương tác xã hội là tác động qua lại (có ý thức) của các chủ thể hành động.
“Tương tác xã hội là khái niệm chỉ mối quan hệ tương hỗ, lệ thuộc vào nhau của những con người xã hội phản ứng tương hỗ và sự thông đạt hỗ tương (tác động, ảnh hưởng qua lại) đối với từng cá nhân và các đoàn thể, cộng đồng.là điều kiện vô cùng thiết yếu, nhờ nó, thông qua nó mà các đoàn thể, cả xã hội mới tồn 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại và hoạt động” [10, tr43]. Khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của tương tác xã hội đến sự tồn tại xã hội. Tác giả xem nó như là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại, vận hành xã hội. Tương tác xã hội là một khái niệm khá trừu tượng, nó được quy định từ hai khái niệm hành động xã hội và quan hệ xã hội.
Tương tác xã hội chỉ sự tác động qua lại giữa các chủ thể xã hội với nhau mà chủ thể đó là các cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội. Thông qua sự tương tác xã hội, giúp cho các cá nhân nhận diện bản thân mình, đồng thời nhận diện được người khác thông qua nhãn quan xã hội của họ, người ta giới thiệu chính bản thân mình bằng nhiều hình thức như: tác phong, lời nói, cử chỉ, trang phục… Trong tương tác xã hội của các cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội lâu dài hình thành nên mô hình xã hội, mô hình xã hội được hiểu là hình mẫu để người ta ứng xử trong trường hợp tương tác cụ thể nào đó mà không phải tìm kiếm. Có thể hiểu, tương tác xã hội là hình thức giao tiếp xã hội hay trao đổi giữa cá nhân và các cộng đồng, trong đó mối quan hệ qua lại của chúng được thực hiện, hành động xã hội được diễn ra và được sự thích ứng của một hành động này với một hành động khác, qua đó cũng tìm thấy cái chung trong sự hiểu biết tình huống, ý nghĩa hành động, nhằm đạt được mức độ hợp tác nhất định hoặc sự đồng tình giữa chúng. Trong nghiên cứu này, khái niệm tương tác xã hội chỉ đư ợc hiểu trong giới hạn tương tác xã hội của h ọc sinh THPT theo hai mố i tương tác phổ biế n của ho ̣c sinh THPT đó là : tương tác với gia đin ̀ h (với bố , mẹ); tương tác với nhà trường (bạn bè, thầ y cô và các mố i quan hê ̣ khác trong trường đang theo ho ̣c).