CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Cho đến nay, đã có nhiều cách hiểu khác nhau về FDI. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một DN đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.
Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD), FDI bao gồm các hoạt động kinh tế của các cá nhân, kể cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm mục đích tạo dựng quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý [36]. Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa FDI là một khoản đầu tư được thực hiện nhằm đạt được một lãi suất ổn định về mặt quản lý (thường tối thiểu là 10% trên số cổ phần có quyền bỏ phiếu) trong một DN hoạt động tại một quốc gia khác với nước sở tại của nhà đầu tư. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc DN 100% vốn nước ngoài theo quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 của luật này” (Khoản 3, Điều 2) [11]. Mới nhất, theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Khoản 2, điều 3); Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam (Khoản 5, Điều 3) và DN có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm DN do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; DN Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại (Khoản 6, Điều 3) [12].
Riêng đề tài này, xin phép được nêu lên định nghĩa mà tác giả cho rằng đầy đủ và hợp lý nhất như sau FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Tăng trưởng kinh tế: Simon Kuznet (1966) định nghĩa “tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”. Định nghĩa này tương tự như định nghĩa do Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) đưa ra: “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Trong khi đó, Hendrik Van den Berg cho rằng “tăng trưởng kinh tế là tăng phúc lợi của con người”.
Trong nghiên cứu này, tăng trưởng kinh tế được xem là sự tăng lên của thu nhập quốc dân, thu nhập quốc dân bình quân đầu người. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người hàng năm.2 Những lý thuyết [11]: Đầu tư nước ngoài được hình thành dựa trên các học thuyết sau: Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác Lê nin cho rằng sở dĩ có sự gặp gỡ giữa nước xuất khẩu tư bản và nước tiếp nhận tư bản là do khi tư bản tài chính phát triển ở mức độ cao thì xuất hiện “tư bản thừa”. Nếu đưa nguồn “tư bản thừa” ra nước ngoài, đặc biệt là vào những nước kém phát triển thì sẽ thu được lợi nhuận cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 hơn vì những nước này đang rất thiếu vốn trong khi họ lại cần phải phát triển kinh tế, đổi mới kỹ thuật, áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến. Có hai hình thức xuất khẩu tư bản: xuất khẩu tư bản cho vay và xuất khẩu tư bản hoạt động, trong đó xuất khẩu tư bản hoạt động chính là đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay vì đây là hình thức đem tư bản ra nước ngoài tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó sản xuất ra giá trị hàng hóa nhằm thu hút nhiều lợi nhuận hơn.
Học thuyết của Keynes nêu lên mối tương quan thuận giữa đầu tư và thu nhập, thêm vào đó, đầu tư còn là nhân tố quan trọng để giải quyết việc làm. Do vậy Nhà nước cần phải sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết nền kinh tế, cụ thể hơn là phải có các công trình đầu tư lớn để sử dụng lao động thất nghiệp và tư bản nhàn rỗi. Nhà kinh tế học người Mỹ Paul Samuelson cho rằng có 4 nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế, đó là nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cấu thành tư bản và kỹ thuật. Các nước đang phát triển do thiếu vốn đầu tư nên không thể khai thác được các nhân tố vừa nêu.
Thiếu vốn dẫn đến năng suất lao động thấp và tiết kiệm thấp, tiết kiệm và đầu tư thấp dẫn đến tích lũy thấp, tích lũy thấp lại dẫn đến thiếu vốn. Để thoát khỏi cái “vòng lẩn quẩn” đó cần phải có cú hích từ bên ngoài, đó chính là nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vào các nước này. Lý thuyết “vòng lẩn quẩn” và cú hích từ bên ngoài chính là nền tảng cho sự hình thành đầu tư nước ngoài.3 Những đặc điểm [11]: Một số đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài được rút ra như sau: − Tùy theo quy định của mỗi nước mà các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một số vốn tối thiểu để hoạt động. − Mức độ góp vốn sẽ quyết định quyền hành quản lý Công ty, nếu chủ đầu tư nước ngoài đóng 100% vốn thì Công ty sẽ do chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ (hình thức Công ty 100% vốn nước ngoài hiện nay ở Việt Nam) − Lợi nhuận thu được của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty sau khi đã trừ nghĩa vụ thuế phải nộp.
Tỷ lệ lời lỗ được xác định dựa vào tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định của các bên. − Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện dưới các hình thức: • Góp vốn để thành lập mới Công ty; • Mua lại toàn bộ hay từng phần Công ty đang hoạt động; • Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và vai trò của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế 1.1 Tổng quan diễn biến thu hút và thực hiện FDI tại Việt Nam từ 1998-20081 a. Các giai đoạn phát triển Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 có hiệu lực, Việt Nam đã đạt được kết quả khả quan trong thu hút luồng vốn FDI. Tính đến 30/06/2009, Việt Nam đã thu hút được 10.409 dự án với tổng vốn đăng ký và tăng thêm2 đạt khoảng 164,7 tỷ USD.
Đáng chú ý, tổng số vốn thực hiện tính đến hết tháng 6 năm 2009 chiếm khoảng 45% tổng vốn FDI đã đăng ký và tăng thêm. Tuy nhiên, luồng vốn đầu tư FDI hàng năm vào Việt Nam diễn biến thất thường, không ổn định, đặc biệt là từ năm 1997 trở lại đây sau khi Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao thu hút FDI vào năm 1996 (Hình 1. 1 Nếu không có trích nguồn khác, tất cả số liệu trong mục này được lấy từ nguồn chính thức của Tổng cục thống kê, niên giám thống kê từ các năm 2000-2004 và trên trang Website http://www. 2 Kể cả vốn của DN Việt Nam.
Theo TCTK, đóng góp của phía Việt Nam có xu hướng giảm dần trong tổng vốn đăng ký: bằng 22,6% trung bình giai đoạn 1988-1990, 28,1% giai đoạn 1991-1995, 27,7% giai đoạn 1996-2000 và chỉ còn xấp xỉ 8% giai đoạn 2001-2008. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 80,000 1,800 Vốn đăng ký Vốn thực hiện Số dự án 70,000 1,600 1,400 60,000 1,200 50,000 Dự án Triệu USD 1,000 40,000 800 30,000 600 20,000 400 10,000 200 0 0 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Năm Hình 1.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 1988-2008 (Nguồn: TCTK2005, Cục Đầu tư nước ngoài 2008) Có thể phân chia quá trình thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong 20 năm qua thành ba giai đoạn chủ yếu sau: Từ 1988 đến 1996: Đây là giai đoạn ghi nhận sự gia tăng liên tục của dòng vốn FDI vào Việt Nam tốc độ nhanh cả về số dự án, số vốn đăng ký mới tăng và đạt mức đỉnh điểm với số vốn đăng ký gần 8,9 tỷ USD vào năm 1996. Đây được xem là “làn sóng FDI lần thứ nhất vào Việt Nam. Kết quả này phần nào là do kỳ vọng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với một nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi và mở cửa, có quy mô dân số khá lớn với trên 70 triệu người và thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng.
Đặc điểm của giai đoạn này là vốn thực tế giải ngân tăng về tuyệt đối và tương đối, nhưng tỷ lệ vốn giải ngân thấp, một phần do đây là giai đoạn đầu, một phần do tốc độ tăng vốn đăng ký cao hơn. Từ 1997 đến 2003: Đặc trưng bởi sự giảm sút mạnh của dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á và do môi trường đầu tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực, nhất là Trung Quốc.