Mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó là các nội dung về phạm vi nghiên cứu và đối tượng của đề tài nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các lý thuyết có liên quan đến đào tạo nghề và mối quan hệ đào tạo và thu nhập. Đồng thời, chương này trình bày các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến vấn đề đào tạo nghề.
Từ đó, thừa kế và phát triển dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trước. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung nghiên cứu, phương pháp phân tích và mô tả phương pháp chọn mẫu khảo sát. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu; Phân tích thực trạng đào tạo nghề trên địa bàn nghiên cứu; Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai; Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ; Thảo luận kết quả nghiên cứu. 4 Chương 5 - Kết luận và gợi ý chính sách: Tóm tắt lại các kết quả đạt được trong nghiên cứu, những hạn chế của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo; Khuyến nghị một số gợi ý chính sách nhằm giúp cơ quan quản lý Nhà nước nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các khái niệm có liên quan Giáo trình Kinh tế lao động, trường Đại học Kinh tế quốc dân (2002), nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, là toàn bộ kiến thức kỹ năng và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả công việc chuyên môn. Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả.
Dạy nghề (theo Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2013) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên. Để tổ chức dạy nghề Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
Để cụ thể hóa các chính sách trên cho phù hợp với địa bàn tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2577/QĐ-UBND ngày 29/09/2010; Quyết định 1418/QĐ-UBND ngày 16/5/2016 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” tỉnh Đồng Nai với mục tiêu nâng cao chất lượng hiệu 6 quả trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020. Các lĩnh vực đào tạo nghề nông nghiệp gồm: Trồng trọt (các loại cây); kỹ thuật trồng nấm; kỹ thuật chăn nuôi gia cầm, gia súc, nuôi thủy sản, chế biến nông, lâm - thủy sản; quản lý trang trại (hợp tác xã, tổ hợp tác); kỹ thuật chăm sóc cây. Phương thức đào tạo là đào tạo tập trung tại địa bàn dân cư ấp, xã; kèm cặp trực tiếp tại các mô hình thực tế sản xuất nông nghiệp, tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp; tại các cơ sở đào tạo tùy theo chương trình đào tạo đặc thù của từng nghề; đồng thời tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo và cam kết sử dụng lao động sau tốt nghiệp, quy mô của một lớp học nghề tối đa không quá 35 người/lớp. Trình độ đào tạo: Thường xuyên (dưới 03 tháng), sơ cấp (3 tháng).
Theo Tổng cục thống kê (2010), Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập ( không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì nông hộ là gia đình nông dân ở nông thôn, sinh sống bằng nghề nông hoặc một số ngành nghề phụ khác. Nông hộ là đơn vị sản xuất quan trọng đối với nông nghiệp. Liên hợp quốc (1993) khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, làm chung và có chung một ngân quỹ.
Như vậy, nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp 7 (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau. Các lý thuyết có liên quan Mincer (1974) cho rằng vốn con người phải đầu tư qua tích lũy thông qua giáo dục, rèn luyện trong lao động và mang lại cho người sở hữu một khoản thu nhập. Mức vốn con người tích lũy nhiều hay ít tương ướng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của mỗi người nhận được trong quá trình đào tạo, rèn luyện.
Nó thể hiện qua số năm đi học và số năm làm việc. Becker (1993) đã khẳng định không có đầu tư nào mang lại hiệu quả lớn như đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất lao động đều được xem là đầu tư cho vốn con người. Về mặt lợi ích cá nhân người lao động có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn, người có kinh nghiệp, thâm niên công tác cao hơn có mức thu nhập cao hơn.
Borjas (2005) cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với lý thuyết cơ bản trong kinh tế học. Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng như đầu tư vào vốn hữu hình, khi đó người ta xem xét những dòng thu nhập quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học nghề hay không đi và lựa chọn các ngành nghề với nhau. Phương án đi học sẽ được lựa chọn khi nó đem lại dòng thu nhập cao nhất có thể. Nguyễn Bá Ngọc (2008) cho rằng khi đi học chúng ta phải trả mức phí trước mắt và thu lợi từ các dòng thu nhập cao hơn trong tương lai.
Giả sử bạn đang gửi khoản tiền “P” trong ngân hàng và nhận một mức lãi suất “r”, đến năm thứ n thì giá trị tương lai “V” của khoản tiền nay là: V = P*(1+r)n. Với một người đi học 4 năm, anh ta có chi phí cho 4 năm học (C0,C1,C2,C3) mức thu nhập dự kiến trong tương lai là ∆𝑊 và số năm làm việc trước khi về hưu là “T” thì có thể tính được giá trị hiện tại của tấm bằng là: − C1 + − C2 + − C3 + ∆W4 + ∆W5 + …+ ∆Wt P(v) =. Quyết định đi học Thu nhập, chi tiêu Đại học (1) III Phổ thông (2) II 018 22 T I Độ tuổi Nguồn: Harvey B. Đường (2): thể hiện dòng thu nhập khi tốt nghiệm phổ thông trung học.
Vùng (I): chi phí cho sách vở, đồ dùng học tập, học phí và những khoản chi phí khác không phải là chi phí sinh hoạt. Vùng (II): phần thu nhập bị mất nhìn thấy (do không đi làm và dành thời gian đi học), đây chính là chi phí cơ hội của thời gian bỏ ra đi học. Vùng (III): thu nhập có được với tấm bằng đại học. Người đó nên đi học khi: giá trị hiện tại của vùng (III) > giá trị hiện tại của vùng (I) + vùng (II).
Như vậy, giáo dục đào tạo làm tăng thu nhập cho người lao động và giúp cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ theo 3 hướng tác động sau: - Tích lũy vốn con người mới (kiến thức, kỹ năng và phẩm chất); - Chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định; 9 - Tích lũy vốn kiến thức để họ có thể tìm được công việc thích hợp hơn. Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Theo Becker (1976), nghiên cứu ở 21 quốc gia trong những năm từ 1991-2005 đã khẳng định: Học là một quyết định đầu tư tối ưu hóa, qua việc học sẽ làm tăng năng suất lao động của các cá nhân và người lao động có tay nghề cao hơn sẽ được trả lương cao hơn nếu thị trường lao động là hoàn hảo và lao động được trả lương theo giá trị biên của nó. Kết quả chạy hồi quy, đã nhận định IRR (suất sinh lợi) tăng lên rõ rệt ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canađa. Theo Mincer (1974), thực hiện phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu, trong đó sử dụng logarit tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc và số năm đi học, số năm kinh nghiệm và bình phương của nó là biến độc lập.
Thông qua giả định các cá nhân không khác nhau về năng lực bẩm sinh, hệ số ước lượng số năm đi học cho ta biết phần trăm gia tăng của tiền lương khi thời gian đi học tăng lên một năm.