Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các kết quả nghiên cứu trước đây Andre J.Bate- 2007 đã thực hiện nghiên cứu trên 70 doanh nghiệp của New Zealand từ năm 1993-2005 với mẫu khảo sát gồm 411 năm-doanh nghiệp, trong đó có 56 doanh nghiệp đơn ngành với 325 năm-doanh nghiệp đơn ngành và 14 doanh nghiệp đa ngành với 86 năm-doanh nghiệp đa ngành, kết quả đã cho thấy rằng giá trị doanh nghiệp kinh doanh đa dạng hóa giảm 35% so với doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành. Và kết quả này phù hợp với rất nhiều bằng chứng đã nghiên cứu trước đây. Khi cố định các thuộc tính không được quan sát nhưng có ảnh hưởng đến quyết định đa dạng hóa (là năm và doanh nghiệp – đây là hai đặc tính nổi bật nhất) để kiểm tra nguyên nhân của việc giảm giá trị của các doanh nghiệp đa dạng hóa, Andre J.Bate đã gặp phải thất bại do các hệ số tìm được từ phương trình hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Tiếp tục kiểm tra về tác động của chi phí đại diện lên sự sụt giảm giá trị doanh nghiệp, ông cũng bị thất bại vì hệ số tìm được không như mong đợi của giả thuyết ban đầu.
Ông cho rằng, sự giảm sút giá trị của các doanh nghiệp này không phải là do việc đa dạng hóa gây ra, mà có thể là do một số đặc điểm khác của doanh nghiệp không được phù hợp khi kết hợp với nhau, hoặc cũng có thể do sự cô lập về địa lý và thị trường của các doanh nghiệp ở NewZealand, dẫn đến tình trạng là các doanh nghiệp này khai thác cạn kiệt các cơ hội tăng trưởng rồi sau đó mới tiến đến thực hiện đa dạng hóa, và điều này cũng làm cho các doanh nghiệp đa dạng hóa có giá trị giảm đi. Ngoài ra, khi kiểm tra sự giảm sút về giá trị và hiệu quả của nghiên cứu này, ông không tìm thấy được mối liên quan nào giữa việc giảm giá trị với giảm hiệu quả, 8 và sự xung đột giữa lợi ích của các doanh nghiệp con. Với nghiên cứu của S.Ho (2000) nghiên cứu 145 doanh nghiệp ở Singapore, các mức độ của đa dạng hóa doanh nghiệp có tương quan dương đối với qui mô doanh nghiệp, và có tương quan âm đối với các cổ đông nằm ngoài ban quan lý, tuy nhiên không có bằng chứng cho thấy các cổ đông nằm trong ban quản lý thì có tương quan dương với mức độ đa dạng hóa.Ho cho rằng, giá trị của các doanh nghiệp đa dạng hóa giảm đi trong trường hợp các doanh nghiệp này có số cổ đông nắm quyền quản lý ít hơn, và việc giảm giá trị này xảy ra có thể liên quan đến vấn đề về chi phí đại diện. Còn các cổ đông nằm ngoài ban quản lý thì chưa có bằng chứng thể hiện sự tác động đến giá trị doanh nghiệp.
Tác giả cho rằng, đối với các doanh nghiệp có giá trị bị giảm đi như thế, thì các cổ đông nằm ngoài ban quản lý thực hiện các hành động nhằm cản trở việc đa dạng hóa doanh nghiệp, nhưng cũng không có bằng chứng cho thấy chi phí đại diện trong trường hợp này được giảm đi. Nghiên cứu Hadlock và các tác giả (2001) được tiến hành trên mẫu gồm 641 trường hợp phát hành cổ phiếu từ năm 1983 – 1985, cho thấy đối với doanh nghiệp đa dạng hóa, sự tăng lên đáng kể nhất là vấn đề về đại diện, khi cho rằng nhà quản lý tập trung quá nhiều vào những dự án kém hiệu quả hơn so với doanh nghiệp đơn ngành. Hay nói khác đi, doanh nghiệp đa ngành có xu hướng được điều hành bởi những nhà quản lý thích đầu tư tràn lan. Nếu doanh nghiệp đa dạng hóa có xu hướng chi tiền vào những dự án kém hiệu quả, và nếu xem việc phát hành cổ phiếu là một dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp này đang cần tiền vào những dự án kém hiệu quả như thế, thì lẽ ra thị trường sẽ có những phản ứng tiêu cực đối với doanh nghiệp đa dạng hóa khi phát hành cổ phiếu.
Nhưng trong kết quả thực nghiệm thì lại ngược 9 lại với lý thuyết này.Kwon (2008) thực hiện nghiên cứu trên các doanh nghiệp sản xuất tại Hàn Quốc từ năm 1994-2000 với mẫu khảo sát bao gồm 2.894 năm-doanh nghiệp, các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành bị giảm đi so với các doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành. Việc đa dạng hóa của các tập đoàn Hàn Quốc làm cho giá trị các tập đoàn này giảm đi, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của từng loại đa dạng hóa sẽ khác nhau, trong khi các doanh nghiệp đa dạng hóa không liên kết có giá trị doanh nghiệp giảm đi, thì những doanh nghiệp đa dạng hóa có liên kết lại có giá trị doanh nghiệp giảm không rõ ràng. Theo Burch và Nanda (2001) nghiên cứu trên những doanh nghiệp chia tách ngành kinh doanh, nhận thấy rằng, các doanh nghiệp sau khi chia tách đã tạo ra giá trị cao hơn so với doanh nghiệp trước khi chia tách, tức là doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành có giá trị cao hơn so với đa dạng hóa. Theo Campa và Kedia (2002), tác giả cho rằng, các doanh nghiệp có quyết định đa dạng hóa khi họ không còn cơ hội tăng trưởng trong lĩnh vực của mình nữa.
Do vậy, đối với trường hợp này, giá trị doanh nghiệp giảm dẫn đến đa dạng hóa ngành nghề chứ không phải do đa dạng hóa mà làm cho giá trị doanh nghiệp giảm. Theo Makoto Nakano (2004) nghiên cứu về cấu trúc tài chính trên các doanh nghiệp đa dạng hóa của Nhật trong giai đoạn 1998 – 2001, cho thấy rằng, các doanh nghiệp càng có nhiều ngành nghề thì có lợi ích, doanh số và rủi ro càng thấp và đòn bẩy tài chính càng cao. Đồng thời, với các doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa thì giá trị của nó giảm 5%. Ông cũng tiến hành tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm đó thì nhận thấy, các doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa không liên kết có sự sụt giảm lớn nhất, và những lợi ích có được từ việc đa dạng hóa như tiết kiệm thuế 10 hoặc đòn bẩy tài chính vẫn còn quá ít, và không đủ để bù đắp phần sụt giảm đó.
11 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế và lựa chọn mô hình nghiên cứu: Đề tài được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng. Ở đây, tác giả sử dụng dữ liệu bảng hay còn gọi là dữ liệu kết hợp các dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian. Đối với mô hình hồi quy, tác giả lựa chọn xuất phát từ những nghiên cứu trước đây liên quan đến đánh giá ảnh hưởng của việc đa dạng hóa tác động đến giá trị doanh nghiệp. Do đặc điểm của các doanh nghiệp tại Việt Nam, và một phần cũng do cấu trúc của các bảng báo cáo tài chính ảnh hưởng đến việc thu thập số liệu nghiên cứu, nên tác giả đã lựa chọn mô hình nghiên cứu đánh giá giá trị doanh nghiệp theo bội số của theo Andry J.Bate (2007) dựa trên nền tảng của Berge và Ofeck để kiểm tra ảnh hưởng của đa dạng hóa đến giá trị và hiệu quả doanh nghiệp, cụ thể như sau: - Phân tích đơn biến các chỉ tiêu của doanh nghiệp đơn ngành so với doanhnghiệp đa ngành để có cái nhìn tổng quát về hai hình thức kinh doanh này.
- Phân tích hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là giá trị vượt trội (EXVAL) và hiệu quả vượt trội (EXPER). Trong phần này, tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (LS) để đánh giá ảnh hưởng của đa dạng hóa đến giá trị và hiệu quả doanh nghiệp: Biến phụ thuộc: mô hình 1 giá trị vượt trội của doanh nghiệp (EXVAL) EXVALi = β0 + β1DDHi+ β2QUYMOi+ β3iDONBAYi+ β4CHIACOTUCi+ β5BIENDOi+ εi (1) Biến phụ thuộc: mô hình 2 hiệu quả vượt trội của doanh nghiệp (EXPER) EXPERi = β0 + β1DDHi+ β2QUYMOi+ β3iDONBAYi+ β4CHIACOTUCi+ εi(2) Sau phần hồi quy này, tác giả thực hiện hồi quy với biến phụ thuộc là EXVAL 12 và bổ sung thêm biến độc lập là EXPER nhằm kiểm tra xem chỉ tiêu hiệu quả vượt trội có mối liên hệ với chỉ tiêu giá trị vượt trội như thế nào? Dựa trên mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effect Model, LS+Dummy) còn gọi là hồi quy biến giả bình phương nhỏ nhất LSDV (Least Squares Dummy Variable) trên dữ liệu bảng (Panel data) để đánh giá ảnh hưởng của đa dạng hóa tác động lên giá trị doanh nghiệp. Đồng thời, tác giả thực hiện điều chỉnh các biến nội suy để xác định yếu tố nào đã làm tăng hoặc giảm giá trị và hiệu quả doanh nghiệp như kết quả phân tích ở trên. Thay đổi biến đo lường đa dạng hóa ở trên bằng chỉ số Herfidahl và cho chạy lại hồi quy.
Mục đích là để xem kết quả có được ở trên có phải là do cách lựa chọn phương pháp đo lường đa dạng hóa hay không? Thay đổi biến đo lường giá trị doanh nghiệp bằng hệ số Tobin’s q và cho chạy lại hồi quy. Mục đích là để xem kết quả có được ở trên có phải là do cách lựa chọn phương pháp đo lường giá trị doanh nghiệp hay không? 3.2 Biến và giả thuyết nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng làm trọng tâm để nghiên cứu tác động của đa dạng hóa lên giá trị của các doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn gần đây của hai sàn HOSE và HXN. Việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu định lượng làm phân tích chính trong luận văn này vì nhiều lý do như sau: - Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về tác động của đa dạng hóa lên giá trị doanh nghiệp sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng như Andry J.Bate và Tae Ho Kwon (2008), S.Ho (2000), … - Việc sử dụng phương pháp này giúp cho tác giả dễ dàng so sánh kết quả 13 nghiên cứu của luận văn này với kết quả của các nghiên cứu trước đây. - Phương pháp định lượng được đặc trưng bởi việc sử dụng nhiều dữ liệu và thường được áp dụng khi kiểm định các lý thuyết, và đây cũng chính là mục đích của đề tài này.1 Biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình nghiên cứu: Việc chọn các biến sử dụng đưa vào mô hình hồi quy xuất phát từ những nghiên cứu thực nghiệm trước đây để đảm bảo kết quả phù hợp và có thể so sánh được với những nghiên cứu khác.