Khóa luận về quyền tự do công đoàn theo hiệp định CPTPP và tác động đối với Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Khoá luận quyền tự do công đoàn theo hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên thái bình dương, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận

2021

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của CPTPP đến quyền tự do công đoàn tại Việt Nam

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực quyền tự do công đoàn. CPTPP không chỉ là một hiệp định thương mại mà còn là một cam kết mạnh mẽ về quyền lao động, trong đó quyền tự do công đoàn được nhấn mạnh. Điều này có nghĩa là Việt Nam cần phải điều chỉnh các quy định pháp luật lao động để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Sự thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn đến cả các doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia.

1.1. Khái quát về quyền tự do công đoàn theo CPTPP

Quyền tự do công đoàn theo CPTPP được quy định rõ ràng, bao gồm quyền thành lập và gia nhập công đoàn theo sự lựa chọn của người lao động. Điều này có nghĩa là người lao động có quyền tự do lựa chọn tổ chức đại diện cho mình mà không bị ràng buộc bởi các quy định cũ. Quyền này không chỉ giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

1.2. Tác động của CPTPP đến pháp luật lao động Việt Nam

Việc gia nhập CPTPP đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Việt Nam trong việc cải cách pháp luật lao động. Các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 đã được điều chỉnh để đảm bảo quyền tự do công đoàn được thực thi. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc nâng cao nhận thức và khả năng thực thi của các cơ quan chức năng.

II. Những thách thức trong việc thực thi quyền tự do công đoàn tại Việt Nam

Mặc dù có những quy định mới về quyền tự do công đoàn, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn. Các tổ chức công đoàn độc lập chưa được công nhận đầy đủ, và người lao động vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc thành lập và gia nhập công đoàn. Điều này dẫn đến việc quyền lợi của người lao động chưa được bảo vệ một cách hiệu quả.

2.1. Rào cản pháp lý trong việc thành lập công đoàn độc lập

Luật Công đoàn hiện hành vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc công nhận các tổ chức công đoàn độc lập. Điều này khiến cho người lao động gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các tổ chức đại diện. Cần có sự thay đổi trong quy định pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thành lập công đoàn độc lập.

2.2. Thực trạng nhận thức về quyền tự do công đoàn

Nhận thức của người lao động về quyền tự do công đoàn còn hạn chế. Nhiều người vẫn chưa hiểu rõ quyền lợi của mình và cách thức để bảo vệ quyền lợi đó. Việc nâng cao nhận thức cho người lao động là rất cần thiết để họ có thể tự tin tham gia vào các tổ chức công đoàn và bảo vệ quyền lợi của mình.

III. Phương pháp cải cách pháp luật lao động để đảm bảo quyền tự do công đoàn

Để đảm bảo quyền tự do công đoàn được thực thi hiệu quả, cần có những cải cách pháp luật lao động đồng bộ và toàn diện. Các quy định cần được điều chỉnh để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của các tổ chức công đoàn độc lập.

3.1. Cải cách quy định về thành lập công đoàn

Cần sửa đổi các quy định hiện hành để cho phép người lao động có quyền tự do thành lập công đoàn mà không bị ràng buộc bởi các điều kiện không cần thiết. Điều này sẽ giúp tăng cường quyền lợi của người lao động và thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức công đoàn độc lập.

3.2. Tăng cường giám sát và thực thi pháp luật

Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để đảm bảo các quy định về quyền tự do công đoàn được thực thi. Các cơ quan chức năng cần có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và xử lý nghiêm các vi phạm liên quan đến quyền tự do công đoàn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền tự do công đoàn

Nghiên cứu về quyền tự do công đoàn theo CPTPP đã chỉ ra rằng việc thực thi các quy định này không chỉ mang lại lợi ích cho người lao động mà còn cho cả doanh nghiệp và nền kinh tế. Các tổ chức công đoàn độc lập có thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

4.1. Kết quả đạt được từ việc thực thi quyền tự do công đoàn

Việc thực thi quyền tự do công đoàn đã giúp nâng cao vị thế của người lao động trong quan hệ lao động. Nhiều tổ chức công đoàn độc lập đã được thành lập, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Các quốc gia khác đã thành công trong việc thực thi quyền tự do công đoàn có thể cung cấp những bài học quý giá cho Việt Nam. Việc học hỏi từ kinh nghiệm của các nước đi trước sẽ giúp Việt Nam cải cách pháp luật lao động một cách hiệu quả hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về quyền tự do công đoàn tại Việt Nam

Quyền tự do công đoàn là một phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động. Việc thực thi các quy định trong CPTPP sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động tại Việt Nam. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự nỗ lực từ cả chính phủ, doanh nghiệp và người lao động.

5.1. Tương lai của quyền tự do công đoàn tại Việt Nam

Với những cải cách pháp luật lao động đang diễn ra, quyền tự do công đoàn tại Việt Nam có triển vọng phát triển mạnh mẽ. Người lao động sẽ có nhiều cơ hội hơn để bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các tổ chức công đoàn độc lập.

5.2. Đề xuất hướng đi cho việc thực thi quyền tự do công đoàn

Cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích việc thành lập các tổ chức công đoàn độc lập. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức cho người lao động về quyền lợi của mình để họ có thể tham gia tích cực vào các hoạt động của công đoàn.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương ILO năm 1919, tự do công đoàn được đề cập như là một trong những phương tiện cải thiện các điều kiện lao động và đảm bảo hòa bình. Năm 1944, Tuyên bố Philadelphia khẳng định “tự do ngôn luận và lập hội là rất cần thiết để tiến bộ bền vững”. Hay trong Tuyên bố về các quyền lao động cơ bản của ILO tại nơi làm việc năm 1998, quyền tự do công đoàn của NLĐ được thể hiện trong Công ước 8712; Công ước 98…Trong phạm vi quốc gia, tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thể chế chính trị, trình độ văn hóa và nhận thức của các quốc gia khác nhau mà mức độ công nhận và phạm vi thực hiện quyền tự do công đoàn của NLĐ sẽ khác nhau. Theo thống kê của ILO, quyền tự do công đoàn đã được ghi nhận trong 142 bản Hiến pháp của các nước13.

Nhìn chung, thường theo hai hướng sau: (i) các quốc gia không ủng hộ đa công đoàn thường chỉ tồn tại một tổ chức duy nhất đại diện cho NLĐ (như Trung Quốc, Malaysia); (ii) các quốc gia ủng hộ đa công đoàn thường có nhiều loại tổ chức khác nhau đại diện cho những nhóm NLĐ khác nhau (Senegal, Angieria, Đức, Bỉ, Áo, Singapore, Campuchia14. Hiện nay, 8 Điều 55 Hiến chương 1945: “Sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và các tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo”. 9 Khoản 4 Điều 23 UDHR: “Tất cả mọi người đều có quyền, cùng với người khác, thành lập các công đoàn hay gia nhập vào các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. 10 Khoản 1 Điều 22, ICCPR: “Mọi người có quyền tự do hiệp hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”.

11 Khoản 1 Điều 8 ICESCR: “Các quốc gia thành viên của Công ước cam kết đảm bảo quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn mà mình lựa chọn, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, với điều kiện là chỉ phải tuân theo quy chế của tổ chức công đoàn đó”. 12 Điều 2 Công ước số 87: “Tất cả người lao động và NSDLĐ đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của họ với điều kiện tuân thủ Điều lệ của các tổ chức đó”. 13 Phạm Thị Thúy Nga (2016), “Quyền tự do lập hội của người lao động theo pháp luật quốc tế và yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10 (342), tr. 14 Theo Điều 266 Luật Lao động 1997 của Campuchia quy định: “Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt và không cần phải xin phép trước, có quyền thành lập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình nhằm mục đích duy nhất là nghiên cứu, thúc đẩy các lợi ích và bảo vệ các quyền, cũng như là các lợi ích tinh thần và vật chất, của tập thể và cá nhân những người được vị thế của tổ chức đó điều chỉnh.

Các 11 Việt Nam cũng đã và đang trong quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng thừa nhận chế độ “đa công đoàn”. Có thể thấy rằng mặc dù có nhiều cách quy định khác nhau nhưng hầu hết các quốc gia đều hướng đến việc đảm bảo quyền tự do công đoàn theo quy định trong các Công ước quốc tế của Tổ chức lao động thế giới cũng như của Liên hợp quốc. Khái quát về Hiệp định Đối tác toàn diện & tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Với cách tiếp cận NLĐ là người trực tiếp làm ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải được hưởng thành quả của quá trình này, năm 1998, ILO đã ra Tuyên bố về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động. Đây cũng là cách tiếp cận của các FTAs và đang trở thành xu thế trên toàn cầu, trong đó có Hiệp định CPTPP.

Hiệp định CPTPP được xem là hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” chất lượng cao, tiêu chuẩn cao, toàn diện và cân bằng của thế kỷ XXI với mục tiêu thiết lập một mặt bằng tự do chung cho các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; tăng cường đổi mới, năng suất, sức cạnh tranh; nâng cao mức sống, giảm khoảng cách giàu nghèo ở các nước thành viên; đồng thời, thúc đẩy hoạt động quản lý hiệu quả, minh bạch, bảo vệ NLĐ và bảo vệ môi trường. Hiệp định này khởi nguồn từ Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) - một hiệp định được đàm phán từ tháng 3/2010 với 12 nước thành viên bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam; sau đó, được ký kết tháng 4/6/2016 tại New Zealand. Tuy nhiên, đến tháng 1/2017, khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đắc cử, Hoa Kỳ đã tuyên bố rút khỏi hiệp định này, khiến TPP không thể có hiệu lực như dự kiến vào năm 2018. Ngày 11/11/2017, trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Việt Nam, các nước thành viên còn lại của TPP đã đạt được thỏa thuận cơ bản cho Hiệp định TPP-11, đồng thời đã ra Tuyên bố chung thống nhất đổi tên TPP thành CPTPP và tiếp tục ký kết CPTPP vào ngày 08/3/2018 tại thành phố San-ti-a-gô, Chile để CPTPP có hiệu lực mà không có Hoa Kỳ.

tổ chức chuyên biệt của người lao động được gọi là “công đoàn của người lao động”. Các tổ chức chuyên biệt của người sử dụng lao động được gọi là “hiệp hội của người sử dụng lao động” (Theo Trung tâm Hỗ trợ Phát triển quan hệ lao động (CIRD) – Cục Quan hệ lao động và Tiền lương (2018), tlđd (6)). 12 Đối với Việt Nam, ngày 12/11/2018, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định CPTPP cùng các văn kiện liên quan với 100% đại biểu có mặt tán thành. Theo quy định, 60 ngày kể từ khi các nước thông báo cho New Zealand (nước lưu chuyển hiệp định) về việc phê chuẩn Hiệp định CPTPP, hiệp định này sẽ có hiệu lực với quốc gia đó.

Như vậy, với thông báo tới New Zealand từ 15/11/2018, kể từ ngày 14/01/2019, Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực với Việt Nam. Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP (gồm 30 chương và 9 phụ lục) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ15 để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh mới - Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP. Về nội dung, CPTPP thực hiện tự do hóa ở cấp độ sâu rộng, phạm vi các vấn đề điều chỉnh bao trùm lên nhiều lĩnh vực, không chỉ đề cập tới các cam kết ưu đãi về thương mại truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại… mà còn xử lý những vấn đề mới, phi truyền thống như lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước, chống tham nhũng thương mại, đầu tư, phát triển bền vững và quản trị tốt… nổi bật là vấn đề nhân quyền. Các quy định về nhân quyền đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các FTAs, không dừng lại ở những “tuyên bố” mà được xây dựng như một phần thống nhất trong chiến lược phát triển thương mại toàn cầu với các quy định chặt chẽ và hướng tới cơ chế thực thi mang tính ràng buộc cao16.

Hiệp định CPTPP tập trung bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ, nhưng không đưa ra tiêu chuẩn cụ thể mà áp dụng theo các tiêu chuẩn lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của ILO. Các tiêu chuẩn này đều được các nước thành viên tôn trọng, thúc đẩy và thực thi, thể hiện trong 8 Công ước cơ bản, bao gồm: (1) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của NLĐ và NSDLĐ (theo Công ước số 87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức và Công ước số 98 năm 1949 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể); 15 20 nhóm nghĩa vụ tạm hoãn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lí hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng. 16 Ngô Quốc Chiến (2019), “Vấn đề nhân quyền trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 2 (370), tr. Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn 07/08 công ước này17, còn Công ước 87 dự kiến sẽ phê chuẩn vào năm 2023.

Nội dung các quy định của Hiệp định Đối tác toàn diện & tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) về quyền tự do công đoàn Quyền con người là một trong những giá trị cốt lõi để hình thành nên các quy định trong ILO, thể hiện trong lời nói đầu của Hiệp định CPTPP: “Thiết lập một hiệp định khu vực toàn diện có thể thúc đẩy hội nhập kinh tế nhằm tự do hóa thương mại và đầu tư đem lại tăng trưởng kinh tế và lợi ích xã hội, tạo ra những cơ hội mới cho NLĐ và doanh nghiệp, góp phần nâng cao mức sống, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, giảm nghèo và thúc đẩy tăng trưởng bền vững”. Trong các quyền con người, quyền tự do công đoàn được quy định tại chương 19 của hiệp định CPTPP nhưng không đặt ra những tiêu chuẩn mới mà yêu cầu các quốc gia thành viên phải tuân thủ Tuyên bố ILO 1998 về các nghĩa vụ và quyền cơ bản trong lao động, đặc biệt là Công ước 87 và Công ước 98 của Tổ chức lao động thế giới (ILO). Không dừng lại ở việc nhắc lại cam kết của các bên trong Tuyên bố ILO, CPTPP còn quy định các nước thành viên phải tôn trọng, thúc đẩy và thực thi các quyền đã được ghi nhận trong Tuyên bố năm 1998 của ILO vào trong pháp luật, thể chế và thông lệ quốc gia, trong đó có quyền tự do công đoàn của NLĐ18.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ