CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo Nguyễn Minh Kiều (2007) thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Nguyễn Văn Tiến (2013), “Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Như vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Có nhiều cách định nghĩa nhưng tựu trung lại thì tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng - Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Đặc điểm Tín dụng ngân hàng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin.
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt thì yếu tố uy tín được đặt lên hàng đầu. Ở đây, người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng Tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Đặc trưng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyện nhượng tạm thời vì để thực hiện hành vi cấp tín dụng các ngân hàng phải tạo ra cho mình một nguồn vốn nhất định trong một khoảng thời gian nhất định do đó để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, ng¬ười cho vay phải xác định được rõ thời gian cho vay trên cơ sở xem xét đến quá trình luôn chuyển vốn của đối tượng vay và tính chất vốn của ngân hàng.
Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàng chưa có nguồn để trả nợ, sẽ gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích và không có nguồn để trả nợ. Như vậy, nếu ngân hàng định kỳ hạn nợ phù hợp với đối tượng vay thì khả năng trả nợ đúng hạn rất cao và ngược lại. Tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc trưng này xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời, từ tính sở hữu về vốn, từ sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng đòi hỏi khi cấp tín dụng thì tín dụng phải được hoàn trả. Giá trị hoàn trả thông th¬ường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa vốn nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho ng¬ười ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… nên người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi.
Tài sản giao dịch trong quan hệ giao dịch tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê ( bất động sản và động sản). 10 Tín dụng ngân hàng là hoạt động mang tính tiềm ẩn rủi ro cao vì tín dụng không phải chỉ chịu tác động ảnh hưởng bởi người cho vay và người đi vay mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động cho bản thân ngân hàng và khách hàng. Khi môi trường hoạt động thay đổi như: lạm phát, tăng trưởng kinh tế…sẽ tác động trực tiếp đến khách hàng của ngân hàng do đó tác động đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Phân loại Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tín dụng ngân hàng thương mại.
Cụ thể như sau: 1. Căn cứ vào mục đích vay Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như: Nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thương mại dịch vụ. Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Cho vay nông nghiệp: Là loại hình cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông nghiệp như: giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sâu.
Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm các khoản tín dụng cấp cho các TCTD khác, các công ty tài chính, công ty cho thuê, công ty bảo hiểm quỹ tín dụng và định chế tài chính khác. Cho vay cá nhân: Là loại hình cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, các khoản cho vay nhằm trang trải chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng. Cho thuê: Là hình thức tín dụng thông qua hoạt động cho thuê tài sản. Có hai hình thức cho thuê là cho thuê vận hành và cho thuê tài chính.
Căn cứ vào thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. 11 Cho vay trung hạn: Là khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đó thì cho vay trung hạn còn là nguồn vốn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa mới hình thành.
Cho vay dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Tín dụng dài hạn là loại hình tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau: Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp): Là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thoả thuận.
Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kì. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay bất động sản nhà ở thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ (cho vay chợ) Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay (hoặc được áp dụng theo hình thức thấu chi). Cho vay không có thời hạn cụ thể. Đối với loại cho vay không có thời hạn thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt và trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể áp dụng hình thức này mà không cần nguồn thứ hai bổ sung. Cho vay có bảo đảm: Là hình thức cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Bảo đảm tiền vay giúp cho ngân hàng có thể mở rộng hoạt động tín dụng đối với những khách hàng chưa có đủ uy tín; ngoài ra sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn trả nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng Cho vay trực tiếp: Là hình thức tín dụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán, bao gồm các hình thức: Chiết khấu thương phiếu; Mua các phiếu bán hàng; Nghiệp vụ factoring. Vai trò * Đối với ngân hàng Góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng, do có đối tượng khách hàng rất rộng nên việc phát triển tín dụng sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp.