CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG, XÃ HỘI, QUẢN TRỊ (ESG) ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) và công bố thông tin ESG 1.1 Khái niệm về ESG và công bố thông tin ESG 1. Khái niệm về ESG ESG là viết tắt của Environmental (Môi trường), Social (Xã hội), và Governance (Quản trị) được xem là ba yếu tố quan trọng đánh giá mức độ phát triển bền vững và hiệu quả hoạt động của một tổ chức, đồng thời phản ánh ảnh hưởng của tổ chức đến cộng đồng và môi trường xung quanh. Khái niệm về ESG được đề cập ban đầu trong ấn phẩm của Howard Bowen - nhà kinh tế học Hoa Kỳ vào năm 1953 dưới dạng CSR (Corporate Social Responsibility - trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp).
Sau đó khái niệm này tiếp tục được phát triển bởi Friedman (M. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nhận định thực chất CSR là khái niệm khá trừu tượng, vì vậy trên lập trường của doanh nghiệp rất khó để xác định cụ thể việc doanh nghiệp cần làm gì, tiến hành như thế nào và cơ sở để xây dựng các bộ tiêu chí đánh giá, và ESG xuất hiện để giải quyết được vấn đề này (Thieu Thi Thu Thao, 2023). Theo đó, ESG là sự kế thừa CSR và phát triển bộ số liệu cũng như các chỉ báo định lượng cho phép nhà đầu tư, khách hàng và nhiều đối tượng khác sử dụng nhằm hiểu rõ việc thực hành các hoạt động từ thiện, xã hội và quản trị nội bộ, hay đánh giá trách nhiệm giải trình của tổ chức. Điều này cũng được thể hiện rõ qua ba thành tố được bao hàm trong khái niệm ESG, đó là: (i) E – khía cạnh môi trường: phản ánh những vấn đề như hiệu quả sử dụng năng lượng, phát thải khí nhà kính, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và giảm thiểu ô nhiễm, quản lý chất thải và sử dụng nước…; (ii) S – khía cạnh xã hội: bao trùm các vấn đề như tiêu chuẩn lao động, tiền công và trợ cấp, đa dạng giới tại nơi làm việc và trong hội đồng quản trị, quản lý nhân tài, quan hệ cộng đồng, bảo vệ quyền riêng tư và dữ liệu, quản lý chuỗi cung ứng…; (iii) G – khía cạnh quản trị: đây là yếu tố có vai trò chi phối, ảnh hưởng đến hai thành tố còn lại được đề cập ở trên.
Những vấn đề cụ thể liên quan đến “G” là thành phần 8 và cơ cấu hội đồng quản trị, tầm nhìn chiến lược về phát triển bền vững và sự tuân thủ, thù lao cho ban quản lý, chống tham nhũng và hối lộ… (SRTC, 2024). PRI đã định nghĩa việc tích hợp ESG (Môi trường, xã hội và quản trị) là sự đưa các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị vào phân tích tài chính và quyết định đầu tư một cách rõ ràng và có hệ thống. Ngoài ra, PRI đã cung cấp ví dụ về vấn đề ESG, bao gồm: (i) Môi trường: Các vấn đề liên quan đến chất lượng và hoạt động của môi trường tự nhiên như phát thải khí nhà kính, giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm, quy định về phát thải carbon, năng lượng tái tạo…; (ii) Xã hội: Các vấn đề liên quan đến quyền lợi, hạnh phúc, lợi ích của con người và cộng đồng như nhân quyền, tiêu chuẩn lao động, lao động trẻ em, sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, quản lí nguồn nhân lực và quan hệ lao động, quan hệ với cộng đồng địa phương, tiếp cận dịch vụ y tế, bảo vệ người tiêu dùng…;(iii) Quản trị: Các vấn đề liên quan đến quản trị công ty và các đơn vị liên quan khác như cấu trúc hội đồng quản trị, quy mô, trả lương cho người điều hành, quyền cổ đông, tiết lộ thông tin, đạo đức kinh doanh…(Nguyễn Thị Hòa, 2024). Dưới góc nhìn của Deloitte, ESG có ba trụ cột chính mà các công ty cần báo cáo.
Trong trụ cột Môi trường, các công ty tập trung vào khí thải, sử dụng tài nguyên, quản lý nước, và bảo tồn đa dạng sinh học. Về Xã hội, các báo cáo phản ánh quản lý nhân sự, an toàn sản phẩm, và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng, cũng như tiếp cận sản phẩm và dịch vụ cho các nhóm xã hội thiệt thòi. Trụ cột Quản trị bao gồm quyền cổ đông, đa dạng hội đồng, chính sách bồi thường lãnh đạo, cũng như các vấn đề về hành vi kinh doanh như chống cạnh tranh và tham nhũng. Trong ngành ngân hàng, Vadali (2024) đã xác định các nội dung chính về báo cáo ESG bao gồm: (i) Môi trường: bao gồm các chính sách và hoạt động của ngân hàng liên quan đến các vấn đề môi trường như biến đổi khí hậu, phát thải carbon, đầu tư vào năng lượng tái tạo và hiệu quả sử dụng tài nguyên, phản ánh cách ngân hàng đang quản lý dấu chân carbon của mình và đóng góp vào sự bền vững môi trường; (ii) Xã hội: các tác động của ngân hàng đến nhân viên, khách hàng và cộng đồng mà ngân hàng phục vụ, gồm các vấn đề về lao động, quyền con người, mức độ hài lòng của khách hàng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, tham gia cộng đồng và tài chính hòa nhập; (iii) Quản trị: liên quan đến các cấu trúc và thực tiễn liên quan đến việc quản lý và giám sát ngân hàng, các khía cạnh chính bao gồm sự đa dạng của hội đồng 9 quản trị, thù lao của ban điều hành, đạo đức doanh nghiệp, minh bạch và quyền của cổ đông.
Quan điểm của KPMG cho rằng, đối với các ngân hàng, việc tích hợp ESG không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn gắn liền với hiệu suất kinh tế tốt hơn. Bên cạnh việc chú trọng hoạt động ESG nội bộ, các ngân hàng cần quan tâm đến các rủi ro và cơ hội ESG trong hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính. Việc kết hợp yếu tố ESG cùng với yêu cầu tuân thủ ngày càng cao đặt ra thách thức lớn về khả năng thích ứng và đổi mới của các ngân hàng. Trong quá trình tích hợp ESG vào hoạt động kinh doanh, các ngân hàng cần chú trọng đến việc xây dựng các chiến lược phát triển bền vững, tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh và đảm bảo tuân thủ pháp luật.
Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải cam kết thực hiện mục tiêu không phát thải ròng, tích hợp các tiêu chí ESG vào mô hình hoạt động cốt lõi. Mặt khác, ngân hàng cần nâng cao nhận thức về ESG trong toàn bộ tổ chức, áp dụng các tiêu chí về ESG vào các quyết định về phát triển sản phẩm và dịch vụ. Bên cạnh đó, ngân hàng cần chủ động thích ứng với các quy định pháp luật hiện hành và dự kiến, đảm bảo việc báo cáo và công bố thông tin ESG một cách minh bạch, đồng thời xác định rõ ràng trách nhiệm về ESG ở cấp quản trị. Điều này không chỉ củng cố uy tín và trách nhiệm xã hội của ngân hàng mà còn mở ra cơ hội kinh doanh mới thông qua việc thực thi các chính sách bền vững.
Tóm lại, ESG là một trong những thước đo hoạt động của doanh nghiệp quan trọng nhất đối với việc phát triển bền vững, bao gồm việc quản lý hiệu quả các yếu tố về môi trường, xã hội, và thực hiện quản trị doanh nghiệp đúng đắn. Trong khuôn khổ của bài nghiên cứu, tác giả ủng hộ quan điểm về ESG của PRI và Vadila làm cơ sở lý luận chính. Công bố thông tin ESG Bản chất và phương thức công bố thông tin ESG Trên thế giới, ngày càng có nhiều tổ chức quản lý thừa nhận tầm quan trọng của các thông tin phi tài chính, chính sách môi trường - xã hội - quản trị (ESG) trong việc đánh giá sự phát triển bền vững cũng như cho thấy rủi ro tiềm ẩn của một doanh nghiệp. Theo kết quả khảo sát của KPMG, trong số 1.325 CEO trên 11 thị trường toàn cầu, 69% cho rằng các bên liên quan đòi hỏi cần có báo cáo và minh bạch hơn nữa các vấn đề bền vững và 72% tin rằng yêu cầu giám sát của các bên liên quan về 10 các vấn đề ESG sẽ ngày càng gia tăng.
Việc công khai các thông tin về môi trường - xã hội - quản trị theo Khandelwal và cộng sự (2023) nhằm có được sự tin tưởng của các bên liên quan thông qua việc tăng cường tính minh bạch và tuân thủ các quy định do chính phủ và các nhà đầu tư áp đặt. Theo PWC, công bố các chỉ số và thông tin về phát triển bền vững hiện được xem là một trong những yếu tố cạnh tranh quan trọng giữa các doanh nghiệp, việc công bố thông tin phát triển bền vững được thực hiện theo ba khía cạnh chính sau: (i) Môi trường: Phát thải khí nhà kính, quản lý nước thải và chất thải, nguồn cung nguyên liệu và khả năng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu; (ii) Xã hội: đa dạng, công bằng và hòa nhập, quản lý người lao động, Quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu, quan hệ cộng đồng; (iii) Quản trị: Hội đồng quản trị và Ban Điều hành, đạo đức kinh doanh, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo Báo cáo đặc biệt đo lường chỉ số niềm tin của Edelman, 88% các nhà đầu tư tin rằng công ty chú trọng đến sáng kiến về ESG sẽ đem lại cơ hội về mặt lợi nhuận trong dài hơn tốt hơn so với các công ty không chú trọng về ESG. Theo Tạ Thị Thúy Hằng (2019), có nhiều phương thức để doanh nghiệp công bố thông tin tới các bên liên quan chẳng hạn như: gặp gỡ hay đối thoại với các bên liên quan; trao đổi thông tin về các dự án trách nhiệm xã hội với các bên liên quan; trao đổi thông tin giữa nhà quản trị và người lao động trong doanh nghiệp để nâng cao nhận thức chung và hỗ trợ trách nhiệm xã hội; trao đổi thông tin về nhu cầu mua sắm với nhà cung cấp; trao đổi thông tin với người tiêu dùng liên quan đến sản phẩm… Và để thực hiện các hoạt động này, doanh nghiệp có thể sử dụng các phương tiện truyền tin như: thông qua các cuộc họp, sự kiện công cộng, diễn đàn, báo cáo, bản tin, tạp chí, áp phích, quảng cáo, trang web, thông cáo báo chí, bài báo,.
Trong đó, phương thức trao đổi thông tin qua báo cáo thường niên là hình thức phổ biến nhất và mang tính bắt buộc trong ngành ngân hàng. Báo cáo thường niên cung cấp bức tranh toàn cảnh về hoạt động của ngân hàng trong năm vừa qua.