Chương I: Cơ sở lý luận về chiến lược chuyển đổi số và hiệu quả hoạt động của ngân hàng 1. Chuyển đổi số tại các NHTM 1. Khái niệm chuyển đổi số Chuyển đổi số là thuật ngữ được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nên được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Theo Cục tin học hoá - Bộ Thông tin và Truyền thông, chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.
Hay chuyển đổi số là quá trình áp dụng các công nghệ đột phá để tăng cường năng suất, sáng tạo giá trị, và phúc lợi xã hội (theo Ebert và Duarte, 2018). Chuyển đổi còn được định nghĩa “là sự thay đổi được thúc đẩy bởi công nghệ số, với tiềm năng làm tăng hiệu quả trong các quy trình hiện có, cũng như tạo ra các giải pháp mới cho mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ mới”. Nhìn chung, chuyển đổi số thường được gắn với các cụm từ như “công nghệ số”, “đột phá”, “thay đổi”. Vậy ta có thể hiểu chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ số vào các lĩnh vực của đời sống để đem đến các kết quả đột phá, làm thay đổi đáng kể cách vận hành, ứng xử trong cuộc sống hàng ngày của con người.
Bộ Thông tin và Truyền thông nêu ra rằng: “Chuyển đổi số không phải chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là vấn đề nhận thức và thói quen”. Chuyển đổi số bắt đầu từ những đột phá công nghệ số, nhưng chuyển đổi số không phải chỉ là công nghệ số, mà quan trọng hơn, chuyển đổi số là chấp nhận cái mới, do đó, chuyển đổi số là cuộc cách mạng về tư duy, nhận thức, thể chế, chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Vai trò của chuyển đổi số đối với nền kinh tế Chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại ở nhiều khía cạnh. Đầu tiên, nó tăng cường năng suất lao động thông qua việc tự động hóa quy trình và tối ưu hóa sản xuất, giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu suất và cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai, chuyển đổi số mở ra cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua sự sáng tạo sản phẩm và dịch vụ dựa trên công nghệ mới, mở rộng thị trường tiềm 8 năng và phát triển mô hình kinh doanh. Thứ ba, nó khuyến khích sự đổi mới trong doanh nghiệp thông qua việc thúc đẩy sự sáng tạo, hợp tác và thử nghiệm các ý tưởng mới. Thứ tư, sử dụng công nghệ số trong quản lý và giao dịch tài chính tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro và tạo ra môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch hơn. Thứ năm, chuyển đổi số tạo ra cơ hội việc làm mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, phát triển phần mềm và dịch vụ kỹ thuật số.
Cuối cùng, chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng cường sự hiệu quả, hiệu suất và sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, cũng như tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới. Chuyển đổi số không chỉ là một quá trình công nghệ, mà còn là một yếu tố chính trong việc hình thành nền kinh tế số - nơi mà tất cả các doanh nghiệp áp dụng và tích hợp công nghệ số vào mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh. Một quốc gia có nền kinh tế số hiện đại và phát triển mang lại nhiều lợi ích quan trọng trong việc phát triển các cơ mô hình kinh doanh mới, tăng khả năng cạnh tranh của cách doanh nghiệp Việt Nam, tạo cơ hội lớn cho sự phát triển và thịnh vượng của nền kinh tế, mở ra cánh cửa cho sự đổi mới, tăng trưởng và hội nhập quốc tế. Ngoài ra, nền kinh tế số cũng tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Việc sử dụng công nghệ số trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục và quản lý môi trường có thể cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng cường sự công bằng và bền vững. Qua những những lợi ích trên, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc chuyển đổi số ảnh hưởng đến nền kinh tế không chỉ giúp doanh nghiệp đổi mình và tiếp tục phát triển, nó còn góp phần vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước. Đặc điểm của chuyển đổi số tại các NHTM Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng là việc ngân hàng sẽ tích hợp các công nghệ số và chiến lược đổi mới vào trong các hoạt động của ngân hàng. Sự chuyển đổi này bao gồm việc tích hợp công nghệ vào các hoạt động ngân hàng khác nhau, dẫn đến những thay đổi đáng kể trong cách ngân hàng hoạt động và tương tác với khách hàng.
Chuyển đổi số Ngân hàng là sự thay đổi toàn diện về tổ chức, văn hóa, cách thức làm việc, mô hình kinh doanh, thiết kế, cung ứng SPDV và các mặt hoạt động 9 ngân hàng khác dựa trên công nghệ, dữ liệu và ĐMST để tạo giá trị mới, thấu hiểu và phục vụ KH tốt hơn. Chuyển đổi số tại các NHTM bao gồm việc sử dụng các nền tảng trực tuyến, ứng dụng di động và các dịch vụ số khác để tăng cường trải nghiệm của khách hàng và tối ưu hóa các quy trình ngân hàng. Đồng thời, ngân hàng sẽ tận dụng dữ liệu để tối ưu hóa quyết định chiến lược, từ phân tích dữ liệu khách hàng đến dự báo xu hướng thị trường và rủi ro. Chuyển đổi số cũng đi kèm với việc tối ưu hóa quy trình nội bộ, nhằm nâng cao hiệu suất và linh hoạt, tích hợp trí tuệ nhân tạo và học máy trong quá trình cải thiện tự động hóa quy trình, phát hiện gian lận và cung cấp dịch vụ tư vấn cá nhân hóa cho khách hàng.
Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng đơn thuần. Để chuyển đổi từ ứng dụng CNTT sang CĐS là một sự chuyển đổi mang tính cách mạng. Các ngân hàng cần dịch chuyển trọng tâm từ doanh nghiệp sang khách hàng, từ sản phẩm sang dịch vụ, chuyển từ máy tính riêng lẻ sang điện toán đám mây,. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, CĐS trong hoạt động ngân hàng chính là tổ hợp của CNTT, số hóa toàn diện, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và công nghệ số.
Chuyển đổi số là một hành trình liên tục thông qua các phương thức kỹ thuật số và có một số những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất là sự đổi mới, ngân hàng cần xác định công nghệ và xu hướng mới, kiểm thử các SPDV liên tục, đẩy nhanh thời gian ra mắt thị trường của các dịch vụ số hóa mới bằng cách áp dụng sâu sắc những hiểu biết về khách hàng và thị trường để thiết kế sản phẩm. Thứ hai là sự chuyển đổi, việc liên tục đánh giá và phân tích trải nghiệm của KH để lất mục tiêu KH làm trọng tâm sẽ giúp ngân hàng CĐS hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, ngân hàng cần duy trì các năng lực cần thiết để thực hiện chuyển đổi bằng cách liên tục thiết kế, tạo cơ hội và cải thiện hiệu suất, tính năng sản phẩm. Thứ ba là đặc trưng về sự hợp tác.
Sự kết hợp giữa con người và công nghệ, sự hợp tác giữa các đối tác chiến lược thúc đẩy vản hóa chuyển đổi liên tục để cải thiện sự tham gia của KH và nhân viên nội bộ, đồng thời tạo cơ hội phát triển và mang lại lợi ích cho tổ chức. Chuyển đổi số đang là một xu hướng không thể phủ nhận trong các Ngân hàng và Tổ chức Tài chính trên toàn cầu. Trong quá trình này, các NHTM phải nhanh 10 chóng cập nhật và nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ, đồng thời phát triển các sản phẩm và dịch vụ số mới để bắt kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ. Các cấp độ chuyển đổi số tại NHTM Theo khung chuyển đổi số của Laserfiche, có 3 cấp độ chuyển đổi số tại ngân hàng.
Số hóa thông tin: Số hóa tài liệu là giải pháp chuyển đổi các hồ sơ tài liệu dạng văn bản giấy in, viết tay, ảnh,. sang bản tài liệu số như PDF, file hình, file văn bản. Chuyển đổi số các công việc giấy tờ (đưa lên hệ thống số hóa giấy tờ để giảm quy trình trình ký các thủ tục cần yêu cầu cấp trên, sử dụng chữ ký điện tử) không chỉ giảm chi phí dành cho văn phòng phẩm mà còn bảo vệ môi trường, nâng cao hình ảnh của ngân hàng trong cộng đồng - đây là yếu tố ESG (Environment, Social, Governance). Số hóa quy trình: Số hoá quy trình là việc áp dụng công nghệ để tự động hóa quy trình hiện tại, giúp giảm chi phí vận hành và tăng hiệu quả.
Một số lợi ích các phương thức CĐS đã đem lại cho các ngân hàng: Chuyển đổi số quy trình vận hành thay đổi công tác quản trị điều hành bằng sự đổi mới về phương thức tiếp cận và xử lý thông tin (Ứng dụng robot vào tự động chấm công, hỗ trợ xử lý khiếu nại, duyệt lệnh tự động,. Điều này cho giúp ngân hàng đảm bảo sự lưu thông tiền tệ thông suốt trong mọi bối cảnh, tiếp tục chuyển động cùng nhịp chuyển đổi số của nền kinh tế và giữ được tăng trưởng kinh doanh. Chuyển đổi số các thủ tục mua bán ngoại tệ của khách hàng giúp khách hàng có thể trực tiếp mua bán ngoại tệ trên ứng dụng của ngân hàng cung cấp, từ đó nâng cao trải nghiệm khách hàng trong quy trình dịch vụ. Theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng, nếu mức độ trải nghiệm của khách hàng bằng tối thiểu kỳ vọng của họ thì ngân hàng sẽ "chinh phục" được khách hàng.
Từ đó, cải thiện doanh số bán hàng sản phẩm ngoại tệ. Chuyển đổi số hệ thống chấm điểm tín dụng cá nhân và doanh nghiệp: Việc số hóa hồ sơ của khách hàng sẽ lưu lại các lịch sử giao dịch, điểm nợ xấu, các giao 11 dịch quá hạn, qua đó phân loại được các khách hàng tiềm năng vay vốn và có khả năng trả nợ tốt. Chuyển đổi số các dịch vụ hỗ trợ khách hàng: Không dừng lại ở việc số hóa hành trình khách hàng (mở tài khoản thanh toán, mở sổ tiết kiệm, cho vay trực tuyến thế chấp bằng tài khoản tiền gửi,.), các ngân hàng cũng đã nâng cao trải nghiệm của khách hàng với hoạt động cải tiến và số hoá hành trình trực tuyến cùng ứng dụng eKYC, Neo banking,.