CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU ESOP TẠI VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về ESOP và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên (ESOP) 1. Khái niệm Chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên, tên tiếng Anh là Employee Stock Ownership Plan – ESOP, tạm dịch sang tiếng Việt là chương trình người lao động sở hữu cổ phần.
Có rất nhiều lý do để thực hiện ESOP, cũng như tên gọi chưa có sự thống nhất hoàn toàn vì thế cách hiểu về ESOP cũng rất đa dạng. Theo định nghĩa được đăng tải trên Thời báo Kinh tế (The Economic Times), Chương trình người lao động sở hữu cổ phần (ESOP) là một loại kế hoạch phúc lợi cho người lao động nhằm khuyến khích người lao động có được cổ phiếu hoặc quyền sở hữu trong công ty. Khái niệm này chính là sự diễn giải các từ ngữ trong thuật ngữ ESOP. Đối tượng được hưởng phúc lợi là người lao động của doanh nghiệp thông qua việc sở hữu cổ phiếu của công ty.
Theo khái niệm của Viện Wealth Preservation (Mỹ) thì Chương trình người lao động sở hữu cổ phần (ESOP) là một loại kế hoạch phúc lợi đặc biệt dành cho người lao động (được điều chỉnh bởi Luật Bảo đảm thu nhập khi về hưu người lao động ERISA - Employee Retirement Income Security Act, 1974) cho phép người lao động có quyền sở hữu trong công ty mà không cần đầu tư bằng tiền của họ. Theo Investopedia, Chương trình người lao động sở hữu cổ phần là một chương trình tiêu chuẩn về phúc lợi cho người lao động, trong đó sự đóng góp cổ phiếu của chủ công ty là chính. Chương trình ESOP tiêu chuẩn được hiểu theo nghĩa công ty tài trợ ESOP, cổ đông bán cổ phiếu và người tham gia chương trình đều được nhận lợi ích về thuế. Các công ty thường sử dụng ESOP như một chiến lược tài chính doanh nghiệp và hài hòa lợi ích của người lao động và cổ đông góp vốn.
Ở Việt Nam, cổ phiếu ESOP ở có sự khác biệt với thông lệ quốc tế. Áp dụng theo Thông tư số 162/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà 9 nước (UBCKNN) và các công ty niêm yết thường gọi là “Phát hành cổ phiếu theo Chương trình lựa chọn người lao động”. Đây là cách thức các công ty sử dụng để trao quyền sở hữu cổ phần cho nhân viên thông qua các tiêu chí lựa chọn nhất định. Bên cạnh việc mua cổ phiếu trực tiếp từ công ty thì thông qua ESOP, người lao động cũng đồng thời trở thành chủ sở hữu của chính doanh nghiệp đó, gắn liền lợi ích của công ty với lợi ích của chính bản thân họ; góp phần gắn bó, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của công ty sau này.
Có rất nhiều tiêu chí được lựa chọn để phân bổ cổ phiếu ESOP cho nhân viên như thâm niên, vị trí công việc đảm nhiệm, hiệu quả làm việc… Thông qua chương trình này, doanh nghiệp cho phép những nhân viên xứng đáng có quyền mua cổ phiếu vào một thời điểm nhất định trong tương lai tại mức giá ưu đãi đã được xác định trước. Các nhân viên đủ điều kiện được tự do mua cổ phiếu trong thời gian thực hiện theo định mức đã được phân bổ nhưng thường đi kèm một số điều kiện hạn chế chuyển nhượng (nếu có). Bên cạnh cổ tức được chi trả khi doanh nghiệp đạt lợi nhuận thì khoản chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá mua ban đầu chính là khoản thưởng mà doanh nghiệp tặng cho người lao động. Khi người lao động rời khỏi doanh nghiệp, tùy theo điều kiện quy định trong ESOP, họ có thể tiếp tục nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp có được từ ESOP hoặc doanh nghiệp phải cam kết mua lại lượng cổ phiếu này theo giá thực tế trên thị trường tại thời điểm giao dịch.
Mục đích phát hành cổ phiếu ESOP 1. Kết quả sở hữu Chương trình Khuyến khích Thúc đẩy Tăng năng thưởng cổ tài chính và cam kết suất lao động phiếu cho nhân và lợi nhuận viên (ESOP) Giảm nghỉ việc Hình 1.1: Mối liên kết từ ESOP, tác động đến nhân viên và kết quả của công ty Nguồn: Michie và Oughton, 2001 • Khen thưởng, khích lệ người lao động ESOP được phát hành thông qua các tiêu chí lựa chọn nhằm thu hút và giữ chân người lao động, đặc biệt là những lao động giỏi, có năng lực (Hall và Murphy, 2002). ESOP tạo ra một tinh thần làm chủ, nhân viên nghĩ và hành động giống như người chủ bởi vì họ thực sự là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Từ đó, nâng cao vai trò trách nhiệm, tăng thêm động lực và sự gắn kết của nhân viên với công ty, năng suất cũng như hiệu quả làm việc được cải thiện.
Vấn đề lương thưởng luôn dành được sự quan tâm hàng đầu của người lao động tại doanh nghiệp. Thông thường các công ty sử dụng tiền mặt hoặc trong một số trường hợp đặc biệt là hiện vật để thưởng cho những đóng góp của người lao động trong kết quả hoạt động chung của doanh nghiệp. Nhưng đặc biệt đối với các công ty cổ phần, nhà quản lý có thêm lựa chọn là thưởng thông qua phát hành cổ phiếu ESOP. Vì được phát hành để thưởng, bán với giá ưu đãi nên so với hình thức thưởng thông thường, thưởng cổ phiếu đem lại nhiều giá trị hơn cho người lao động đặc biệt là đối với các công ty mà cổ phiếu tăng trưởng ổn định.
11 • Giảm thuế thu nhập cá nhân cho người lao động Đối với người lao động, cùng là hình thức thưởng nhưng thưởng cổ phiếu ESOP giúp nhân viên giảm đáng kể khoản thuế thu nhập cá nhân phải nộp so với hình thức tặng thưởng tiền mặt. Ở Việt Nam, doanh nghiệp thưởng tiền mặt trực tiếp cho nhân viên, phần thuế thu nhập cá nhân được áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần đã được Bộ Tài chính quy định cho các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công. Những trường hợp cán bộ quản lý cấp cao, nhân viên xuất sắc có mức thưởng cao thì mức thuế tối đa phải chịu lên tới 35%. Nhưng nếu thưởng ESOP, sẽ được ghi nhận là một loại thu nhập từ đầu tư vốn, người lao động chỉ chịu mức thuế 5% đối với cổ tức nhận được từ cổ phiếu ESOP (Điều 10 Thông tư số 111/2013/TT-BTC).
Sau khi hết thời gian hạn chế chuyển nhượng thì việc bán cổ phiếu chỉ chịu mức thuế 0,1% giá chuyển nhượng (Điều 16 Thông tư số 92/2015/TT-BTC) và trả phí giao dịch chỉ khoảng 0,15% tùy thuộc vào Công ty chứng khoán. • Tăng vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp Phát hành cổ phiếu trong đó có cổ phiếu ESOP là kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp cổ phần. Như ở Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp phát hành cổ phiếu ESOP với giá 0 đồng như CTCP Đầu tư Thế giới di động (mã chứng khoán: MWG) đã làm trong năm 2015 hoặc thưởng cổ phiếu cho nhân viên từ cổ phiếu quỹ như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (mã chứng khoán: VIB) thực hiện trong năm 2019 thì các chương trình ESOP khác mặc dù bán ra với giá rất thấp (thường chỉ bằng mệnh giá cổ phiếu 10.000 VND) vẫn sẽ tạo ra một dòng tiền vào cho doanh nghiệp. Vì giá cổ phiếu ESOP thấp hơn so với giá giao dịch trên thị trường nên khi được thưởng theo hình thức này, người lao động sẽ có nhiều động lực bỏ ra một khoản tiền để mua cổ phiếu.
Và khi đó doanh nghiệp sẽ huy động được vốn để tái đầu tư, sản xuất và kinh doanh. 12 • Tránh việc bị thâu tóm, sáp nhập Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu thưởng cho nhân viên, vừa huy động được vốn nhưng cũng vừa tránh được việc chia sẻ quyền quản lý, kiểm soát công ty của cổ đông mới hoặc sự thôn tính/thâu tóm của đối thủ cạnh tranh Việc phát hành cổ phiếu nhằm mục đích thưởng cho nhân viên, trong một số trường hợp cũng là cách để gia tăng quyền kiểm soát của Ban lãnh đạo công ty và chống lại việc nguy cơ bị thâu tóm bới các công ty khác. Ảnh hưởng của việc phát hành ESOP • Ảnh hưởng pha loãng cổ phiếu Mặc dù mục đích phát hành ESOP nhằm khích lệ và giữ chân nhân tài từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lai. Nhưng thời điểm ban đầu khi phát hành cổ phiếu thì ảnh hưởng dễ thấy nhất đó là pha loãng cổ phiếu.
Điều này thể hiện rõ rệt qua chỉ số EPS. Thu nhập trên một cổ phần trong tiếng Anh gọi là Earning per share, viết tắt là EPS. Đó là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS = Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi Tổng số cổ phần thường đang lưu hành Việc phát hành ESOP với giá rẻ hơn giá thị trường chính là việc cắt một phần sở hữu của các cổ đông hiện hữu chia cho lãnh đạo và người lao động.
Khi phát hành ESOP, mặc dù giá cổ phiếu có thể không thay đổi nhưng tổng số cổ phiếu đang lưu hành tăng lên khiến cho tỷ lệ sở hữu công ty của các cổ đông hiện hữu bị giảm xuống. Trong khi đó lợi nhuận chưa thay đổi ngay lập tức nên thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) cũng bị sụt giảm theo. Điều này khiến các cổ đông hiện hữu cảm thấy rằng giá trị của họ trong công ty đang giảm dần. Thậm chí, trong tương lai dài hạn, chính người lao động được hưởng lợi từ việc mua cổ phiếu ESOP cũng có thể gặp bất lợi do họ phải tuân thủ thời gian hạn chế chuyển nhượng.
Khi viễn cảnh lợi nhuận tương lai xấu đi, lợi nhuận bị sụt giảm 13 làm EPS cũng bị sụt giảm theo, có thể thấp hơn cả giá trị lúc họ đầu tư cho cổ phiếu này. Mặt khác, nhà đầu tư có thể kỳ vọng chương trình ESOP sẽ làm giảm độ cô đặc về sở hữu cổ phiếu trong công ty, từ đó đa dạng hóa và tăng số lượng cổ đông. Điều này đồng nghĩa với việc tăng cấu trúc sở hữu vốn cổ phần. Tuy nhiên, khi áp dụng ESOP thực tế, phần nắm giữ của nhân viên chiếm tỷ trọng ngày càng cao hơn và yếu tố không kém phần nhạy cảm là gia tăng sở hữu cho các lãnh đạo và quản lý cấp cao đang nắm giữ vai trò cổ đông lớn của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, để phát hành ESOP phải được sự tán thành của ĐHĐCĐ. Theo quy định, việc biểu quyết liên quan đến vấn đề này phải loại bỏ những người có quyền lợi liên quan như Tổng Giám đốc, Ban Giám đốc,.