phần mở đầu, kết luận, Luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài - Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam giai đoạn 2010-2014 - Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI Từ yêu cầu phải làm rõ những vấn đề lý thuyết và thực tiễn đối với vấn đề hiệu quả kinh doanh của NHTM để vận dụng vào việc nghiên cứu hiệu quả kinh doanh đối với Techcombank, tác giả thu thập hơn 80 tài liệu (44 tài liệu trong nƣớc, 16 tài liệu nƣớc ngoài và hơn 20 luận án tiến sĩ). Trên cơ sở tài liệu thu thập đƣợc, tác giả đã tìm hiểu xem các học giả trong và ngoài nƣớc đã đề cập vấn đề hiệu quả kinh doanh của NHTM đến đâu? Trong các kết quả nghiên cứu của họ có điểm nào luận án có thể kế thừa để phục vụ cho việc xây dựng nền tảng lý thuyết đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của luận án, đồng thời xác định rõ những điểm luận án còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm rõ. Đặc biệt là các học giả đã đề cập đến hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM thế nào trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế để có thể tham khảo xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM ở Việt Nam.
Để đạt đƣợc mục đích này, luận án đã thu thập tài liệu và tổng quan theo các vấn đề sau đây: 1. Tổng quan lại quan niệm về ngân hàng thƣơng mại trong bối cảnh toàn cầu hóa Luận án đã nghiên cứu 16 tài liệu đề cập tới vấn đề ngân hàng thƣơng mại. Họ đƣa ra những quan niệm khác nhau về ngân hàng thƣơng mại. Tuy có sự khác nhau nhƣng nhìn chung những học giả nghiên cứu về quan niệm đối với ngân hàng thƣơng mại đều thống nhất rằng, ngân hàng thƣơng mại là một dạng công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính, lấy lợi nhuận làm tiêu chí quan trọng để hoạt động kinh doanh.
Quan niệm về ngân hàng thương mại Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu quan niệm về ngân hàng thƣơng mại. Tài liệu trong nước: Các học giả quan tâm đến vấn đề này cho rằng ngân hàng thƣơng mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng ngàn năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngƣợc lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Theo các nghiên cứu của Vũ Văn Hóa [24], Dƣơng Hữu Hạnh [33], Hoàng Xuân Quế [66], Nguyễn Thị Mùi [48], các hoạt động ngân hàng xuất hiện rất sớm ở các quốc gia phát triển nhƣng đến khoảng thế kỷ XV thì ngƣời ta mới thành lập đƣợc những ngân hàng có các nghiệp vụ hoàn chỉnh nhƣ tại Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Pháp.
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam phát triển rất chậm so với thế giới. Tại Việt Nam, năm 1951 mới thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Trƣớc đó, trong khoảng thời gian từ 1945 – 1951, việc in ấn tiền và quản lý tài chính quốc gia do Bộ tài chính (thành lập năm 1945) thực hiện. Có nhiều khái niệm về NHTM nhƣng để đƣa ra một khái niệm chính xác thì ta phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trƣờng tiền tệ.
- Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam [50]: “Ngân hàng là loại hình Tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã”. “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. - Ở Mỹ: Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính (Bách khoa toàn thƣ) [2].
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử 7 dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” (Bách khoa toàn thƣ) [2]. Các quan điểm trên chỉ đề cập những hoạt động rất cơ bản của ngân hàng. Trong xu thế hội nhập quốc tế, các ngân hàng thƣơng mại lớn đã trở thành tập đoàn tài chính, có hàng loạt công ty trực thuộc, làm cho việc định nghĩa ngân hàng không còn đơn giản nhƣ trƣớc. Tài liệu nước ngoài Theo Thomas P.Fitch (2012), Dictionary of banking term [105]: “Tổ chức ngân hàng thƣờng là một công ty, nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc, và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng”.
Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng và cộng đồng. Khái niệm của cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) [104] và cũng đƣợc nhiều nƣớc sử dụng ngày nay: “ngân hàng là bất kỳ doanh nghiệp nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (nhƣ bằng cách ký phát séc hay chuyển tiền điện tử) và cho vay thƣơng mại hay cho vay kinh doanh khác (nhƣ cho vay các doanh nghiệp tƣ nhân để tăng hàng tồn kho hay mua thiết bị mới). Định nghĩa này cũng nhấn mạnh hai vế hoạt động của ngân hàng là huy động tiền gửi và cho vay. Tuy nhiên trong thực tiễn, có thể có tổ chức chỉ cung cấp một trong hai vế hoạt động của ngân hàng, đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính khác [78].
Để khắc phục hạn chế nêu trên, Quốc hội Mỹ đã đƣa ra định nghĩa ngân hàng nhƣ sau: “Ngân hàng là bất kỳ định chế tài chính nào tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang”. Định nghĩa này đã không đề cập đến các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng nhƣ chức năng của ngân hàng trong nền kinh tế. Trên thực tế, một định chế đƣợc coi là ngân hàng, đơn giản là tham gia bảo hiểm tiền gửi của công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang [78]. Định nghĩa này tập trung về khía cạnh các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, theo đó ngân hàng là một định chế tài chính kinh doanh tổng hợp, đƣợc coi nhƣ một Tổng công ty bách hóa dịch vụ tài chính [78].
Tóm lại, khái niệm về ngân hàng hiện này là chƣa thống nhất. Tuy nhiên, từ phân tích các quan điểm nêu trên, các học giả đã cho biết quan niệm chung về ngân hàng nhƣ sau: “Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội”. Tác giả luận án cho rằng, nhìn chung quan niệm nhƣ vậy là chấp nhận đƣợc và tác giả có thể kế thừa nhiều điểm để làm rõ hơn trong phần xây dựng nền tảng lý thuyết của luận án.
Các loại hình ngân hàng thương mại a). Tài liệu trong nước Nguyễn Văn Tiến [77] chia ngân hàng dựa vào 3 căn cứ: Căn cứ tính chất và mục tiêu hoạt động gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác; Căn cứ hình thức sở hữu gồm ngân hàng tƣ nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng sở hữu nhà nƣớc, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài; Căn cứ tính đa dạng dịch vụ gồm ngân hàng đơn năng, ngân hàng đa năng, ngân hàng bán buôn và bán lẻ. Nguyễn Minh Kiều [40] và Lê Thị Mận [45] chia ngân hàng thƣơng mại dựa trên ba căn cứ khác nhƣ sau: Dựa vào hình thức sở hữu gồm: NHTM nhà nƣớc, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài; Dựa vào chiến lược kinh doanh gồm: Ngân hàng bán buôn (là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tƣợng khách hàng công ty), ngân hàng bán lẻ (là loại NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tƣợng khách hàng cá nhân), ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ; Dựa vào quan hệ tổ chức gồm: ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh cấp 1, cấp 2, các phòng giao dịch. Tài liệu nước ngoài Smriti Chand [106] chia ngân hàng thƣơng mại thành Ngân hàng chi nhánh; Ngân 9 hàng đơn vị (hoạt động ngân hàng đƣợc thực hiện thông qua một tổ chức duy nhất, mà không có bất kỳ chi nhánh.
Hệ thống này sử dụng phổ biến ở Mỹ); Ngân hàng nhóm (là một hệ thống mà theo đó hai hoặc nhiều ngân hàng, kết hợp một cách riêng biệt, đƣợc kết nối bởi sự điều khiển của một công ty); Ngân hàng chuỗi (tƣơng tự nhƣ tập đoàn ngân hàng, hai hoặc nhiều ngân hàng đƣợc kiểm soát bởi một nhóm duy nhất thông qua việc sở hữu cổ phần hoặc ngƣợc lại; Ngân hàng tiền gửi (các ngân hàng đóng vai trò là ngƣời giám hộ hoặc ngƣời đƣợc ủy thác của ngƣời gửi tiền và thực hiện cho vay); Ngân hàng đầu tư (chức năng chính là cung cấp tài chính cho đầu tƣ công nghiệp); Ngân hàng hỗn hợp (đóng cả hai vai trò nhận tiền gửi và đầu tƣ). Walter Leaf [107], chia ngân hàng thành ngân hàng tiền gửi, ngân hàng công nghiệp, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng giao dịch, ngân hàng hỗn hợp. Bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại a).