Mở đầu Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kiểm định ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ lên hiệu quả đầu tư của các công ty niêm yết tại Việt Nam Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Lý thuyết tân cổ điển Theo lý thuyết tân cổ điển, trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo, để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ đầu tư và tối đa hóa hiệu quả phân bổ nguồn lực cho đến khi thu nhập biên bằng với chi phí biên, lúc này tất cả các dự án có NPV dương đều cần được tài trợ và thực hiện (Yoshikawa, 1980; Albel, 1983). Tuy nhiên, theo Hubbard (1998), trong thực tế thị trường là không hoàn hảo, vấn đề bất cân xứng thông tin có thể dẫn tới việc thực hiện các dự án có NPV âm (đầu tư quá mức) và bác bỏ các dự án có NPV dương (đầu tư dưới mức) khiến cho doanh nghiệp không thể đạt được giá trị tối ưu do đầu tư không có hiệu quả.2 Lý thuyết chi phí đại diện Vấn đề chi phí đại diện luôn hiện diện và là vấn đề nhức nhối trong các công ty cổ phần, luôn luôn tồn tại các mâu thuẫn về lợi ích giữa các thành phần trong công ty như mâu thuẫn giữa chủ nợ và cổ đông, cổ đông và người quản lý, cổ đông thiểu số và cổ đông lớn… Theo lý thuyết chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin là nguyên nhân của tình trạng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức của doanh nghiệp. Jensey và Meckling (1976) và Myers (1977) cho rằng rủi ro đạo đức xảy ra khi có sự mâu thuẫn về lợi ích và thiếu sự kiểm tra, giám sát giữa các cổ đông và người quản lý. Khi thiếu đi sự kiểm tra, giám sát, nhà quản lý có thể tìm mọi cách để tối đa hoá lợi ích cá nhân của họ thay vì tối đa hóa giá trị tài sản của công ty, nâng cao giá trị cổ phiếu và gia tăng cổ tức để đem lại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 lợi ích cao nhất cho cổ đông.
Họ có thể từ chối các dự án có tỷ suất sinh lợi cao do e ngại rủi ro, thực hiện các dự án không có tỷ suất sinh lợi cao nhưng đem lại lợi nhuận cho riêng họ mà không quan tâm đến những hậu quả mà công ty phải gánh chịu. Mâu thuẫn thứ hai trong công ty cổ phần là mâu thuẫn giữa cổ đông và chủ nợ. Lúc này các cổ đông đóng vai trò là người đại diện. Mục đích của các chủ nợ là thu nhập từ lãi suất cho vay và tài sản của công ty trong trường hợp công ty bị phá sản.
Trong khi mục đích của cổ đông là tối đa hóa giá trị công ty và giá trị cổ tức nhận về. Các cổ đông có thể yêu cầu nhà quản lý thực hiện trò chơi chuyển dịch rủi ro, tức thực hiện dự án có rủi ro cao nhưng tỷ suất sinh lợi cực cao. Nếu dự án thành công, cổ đông sẽ nhận được hầu hết phần thu hoạch bằng tiền đánh cược của chủ nợ. Ngoài ra các cổ đông có thể thực hiện các trò chơi như thu tiền bỏ chạy, kéo dài thời gian, thả mồi bắt bóng…gây ra các quyết định đầu tư không hiệu quả và làm giảm giá trị doanh nghiệp.3 Lý thuyết bất cân xứng thông tin Theo Stiglitz và Weiss (1981), lựa chọn bất lợi là một hệ quả điển hình của tình trạng bất cân xứng thông tin.
Do tình trạng thông tin bất cân xứng, các chủ nợ sẽ đối phó với nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư không hiệu quả của doanh nghiệp bằng cách gia tăng lãi suất cho vay do lo ngại tình trạng đầu tư quá mức của doanh nghiệp. Lựa chọn bất lợi xảy ra đối với chủ nợ vì chủ nợ không nắm được các thông tin về dự án đầu tư rõ như công ty đi vay do thông tin bất cân xứng, gây nên thiệt hại với cả chủ nợ và công ty có dự án tốt. Lúc này các công ty với dự án có tỷ suất sinh lời cao đủ để bù đắp lãi suất vay vốn cao nhưng lại có rủi ro lớn sẽ đi vay bằng được vì họ biết rằng nếu vay được chỗ khác (ví dụ vay chợ đen) thì lãi suất rất cao hoặc không vay được. Trong khi các công ty với các dự án tốt, rủi ro thấp nhưng tỷ suất sinh lời không cao bằng lại không vay do lãi suất quá cao, dẫn đến tình trạng đầu tư dưới mức của công ty.
Lựa chọn bất lợi làm cho hiệu quả đầu tư của công ty giảm đi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 2.1 Hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là các thông tin kinh tế của doanh nghiệp được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu cho những người sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế. Nói cách khác, báo cáo kế toán tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của DN cho những người quan tâm (chủ DN nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng,…) Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm các báo cáo: Bảng cân đối kế toán Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Các báo cáo khác theo yêu cầu của pháp luật. Chất lượng báo cáo tài chính là tính chính xác, trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của đơn vị kế toán phục vụ đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của đơn vị.
Việc xác định chất lượng báo cáo tài chính của một doanh nghiệp giúp cho: - Đối với nhà quản lý: giúp cho họ thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị,. - Đối với ngân hàng, nhà đầu tư, người cho vay: xem xét việc cho vay vốn,. - Đối với người bán: xem xét việc cho bán chịu,. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Theo nghiên cứu của Biddle và Hillary (2006), chất lượng báo cáo tài chính cao sẽ làm giảm độ nhạy của dòng tiền đầu tư và giảm vấn đề quản lý thu nhập.
Dựa trên nghiên cứu này, Biddle và các cộng sự (2009) nghiên cứu các doanh nghiệp ở Mĩ, Chen và cộng sự (2011) nghiên cứu tại các nước mới nổi đã tìm ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy, chất lượng báo cáo tài chính cao sẽ giúp các công ty đầu tư dưới mức lựa chọn các dự án có hiệu quả và giúp rà soát lại các khoản đầu tư không hiệu quả của doanh nghiệp đầu tư quá mức. Kết quả một số bài nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chất lượng báo cáo tài chính lên hiệu quả đầu tư như sau: Biddle và Hilary (2006) đã nghiên cứu về vấn đề chất lượng thông tin kế toán và vốn đầu tư cấp độ công ty. Bài nghiên cứu này xem xét tác động của chất lượng thông tin kế toán lên hiệu quả vốn đầu tư trên mẫu gồm 34 nước từ 1993 – 2004. Thông qua việc phân tích độ nhạy của dòng tiền đầu tư bằng cách hồi quy độ nhạy dòng tiền theo phương pháp OLS, bằng chứng thực nghiệm cho thấy chất lượng thông tin kế toán làm giảm độ nhạy của dòng tiền đầu tư bằng tiền mặt, từ đó làm giảm tình trạng đầu tư quá mức.
Ngoài ra bằng cách xem xét riêng tại Mỹ và Nhật, tác giả còn tìm ra rằng tại các nước có vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao hơn trong cấu trúc vốn như Mỹ thì tác động của chất lượng thông tin kế toán lên độ nhạy dòng tiền đầu tư sẽ cao hơn tại các nước mà nợ vay chiếm ưu thế hơn trong cấu trúc vốn như Nhật. McNichols và Stubben (2008) đã nghiên cứu về việc quản lý thu nhập và hiệu quả đầu tư. Với dữ liệu nghiên cứu được lấy từ cơ sở dữ liệu Compustat trong giai đoạn 1978 – 2002 của 535 doanh nghiệp niêm yết, bằng cách hồi quy biến vốn đầu tư theo các biến TobinQ, tiền mặt, tỷ lệ tăng trưởng tài sản, đầu tư quá mức… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Kết quả bài nghiên cứu cho thấy những công ty sử dụng các biện pháp kế toán để quản lý thu nhập thường dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức. Sau khi điều chỉnh lại các báo cáo, tình trạng đầu tư quá mức đã được cải thiện và làm tăng hiệu quả đầu tư.
Biddle và cộng sự (2009) đã nghiên cứu về vấn đề chất lượng báo cáo tài chính ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả đầu tư. Mẫu nghiên cứu bao gồm 34.791 doanh nghiệp tại Mĩ được quan sát từ năm 1993 đến 2005. Bằng cách hồi quy OLS biến hiệu quả đầu tư theo chất lượng báo cáo tài chính được đo lường theo phương pháp của Dechow and Dichev (2002). Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng báo cáo tài chính cao sẽ làm cải thiện hiệu quả đầu tư ở cả hai trường hợp đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức thông qua việc làm giảm thiểu vấn đề bất cân xứng thông tin.
Rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi gây ra bởi bất cân xứng thông tin được giảm thiểu, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư. Các bằng chứng cũng chỉ ra rằng tác động của chất lượng báo cáo lên hiệu quả đầu tư tại các công ty có nhiều tiền mặt và sử dụng vốn vay là thấp hơn so với các doanh nghiệp nắm giữ ít tiền mặt và sử dụng ít vốn vay hơn. García Lara và cộng sự (2010) với nghiên cứu “Nguyên tắc thận trọng và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp”. Tác giả hồi quy dữ liệu bảng theo mô hình hiệu ứng cố định fixed effect biến đầu tư theo các biến như thận trọng trong kế toán đo lường theo phương pháp của Kahn và Watts (2009), chất lượng các khoản trích trước, kích thước doanh nghiệp, chỉ số Z… trên mẫu gồm 41,851 công ty tại Mỹ trong giai đoạn 1990 – 2007.