chương 1, điều 3, mục 1. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dùng cho hóa dầu2. Do dầu thô là nguồn năng lượng không thể tái tạo nên nhiều người lo ngại về khả năng cạn kiệt của dầu mỏ trong tương lai không xa. Các thành phần hóa học của dầu thô được chia tách bằng phương pháp chưng cất phân đoạn sẽ tạo ra các sản phẩm dầu mỏ.
Khi chưng cất dầu thô ở các nhiệt độ khác nhau sẽ thu được các sản phẩm khác nhau như sau: - Xăng ête: (40-70°C) là một nhóm hiđrôcacbon lỏng dễ cháy và dễ bay hơi, được sử dụng chủ yếu để làm dung môi. Xăng ête thu được từ chưng cất phân đoạn dầu mỏ như là sản phẩm trung gian giữa xăng naphta nhẹ hơn và dầu hoả nặng hơn. Nó có khối lượng riêng khoảng 0,7 đến 0,8 khối lượng riêng của nước tuỳ thuộc vào thành phần cụ thể của nó. - Xăng nhẹ: (60-100°C) hay còn gọi là et-xăng, là một loại dung dịch nhẹ chứa hiđrôcacbon, dễ bay hơi, dễ bốc cháy, cất từ dầu mỏ.
Xăng được sử dụng như một loại nhiên liệu dùng để làm chất đốt cho các loại động cơ xăng. Xăng được dùng trong các loại máy móc chạy bằng xăng như: xe máy, ô tô, máy bay, máy phát điện. Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản là các quốc gia tiêu thụ xăng lớn nhất trên thế giới. - Xăng nặng: (100-150°C) dùng làm nhiên liệu cho máy bay, ô tô, xe máy.
Ngoài các loại xăng, dầu thô còn được thành sản phẩm dầu các loại, cụ thể: - Dầu hoả nhẹ: (120-150°C) dùng làm dung môi, chất làm sạch bề mặt và các sản phẩm làm khô nhanh khác. - Dầu hoả: (150-300°C) thu được từ chưng cất phân đoạn dầu mỏ ở nhiệt độ 150°C đến 275°C. Dầu hoả được sử dụng như là nhiên liệu cho các bếp ăn ở các nước chậm phát triển, thông thường ở đó dầu hoả không đựơc làm tinh khiết và còn nhiều tạp chất. Nhiên liệu máy bay phản lực là dầu hoả nặng với các thông số nghiêm ngặt hơn.
2 Bách khoa toàn thư mở: http://vi.org/wiki/D%E1%BA%A7u_th%C3%B4, tra cứu ngày 02/02/2009 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dầu diesel: (250-350°C) là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hoả và dầu bôi trơn. Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ 175 đến 370°C. Các nhiên liệu diesel nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi từ 315 đến 425°C còn gọi là dầu Mazut. Dầu diesel có thể được dùng trong loại động cơ diesel.
- Dầu bôi trơn: (>300°C) được chia thành nhiều loại, mỗi loại được chia thành nhiều nhóm thường là dựa trên độ nhớt trong đó dầu bôi trơn động cơ (còn gọi là dầu nhờn, dầu nhớt) chiếm khoảng 40% dầu bôi trơn ở các nước công nghiệp.3 Ngoài các sản phẩm chính là xăng, dầu như trên còn có một số sản phẩm khác có thể thu được từ quá trình chưng cất dầu mỏ như: hắc ín, nhựa đường và các nhiên liệu khác.4 Qua đó, có thể thấy dầu mỏ là một loại hàng hóa đa tính năng. Các sản phẩm thu được từ dầu mỏ rất phong phú về chủng loại và đa dạng về công dụng, mỗi loại chuyên dùng cho một loại máy móc khác nhau. Thông qua chức năng và phạm vi sử dụng của các sản phẩm này, chúng ta càng thấy rõ sự cần thiết của chúng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. Các đặc tính cơ bản của mặt hàng xăng dầu - Đặc tính lý hoá: Xăng dầu là dạng hóa chất ở thể lỏng, dễ bốc hơi, nhạy cảm với nhiệt độ môi trường.
Do đó, việc bảo quản, chuyên chở, và sử dụng xăng dầu cũng cần có những yêu cầu khác hẳn với các mặt hàng khác như: phương tiện, thiết bị chuyên dùng, công tác bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy. Hơn nữa, xăng dầu là sản phẩm dễ bị hao mòn hữu hình thông qua quá trình vận chuyển như: bay hơi, dễ làm giảm hoặc mất phẩm chất. Vì vậy, yêu cầu về bảo quản để bảo đảm chất lượng xăng dầu là tương đối cao và phải được chú trọng, nếu không giá trị của xăng dầu sẽ giảm. 3 Bách khoa toàn thư mở: http://vi.org/wiki/X%C4%83ng_%C3%AAte , tra cứu ngày 02/02/2009 4 Tổng hợ từ các website: http://en.org và http://vi.org/wiki/D%E1%BA%A7u_th%C3%B4 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mức độ hao hụt xăng dầu trong quá trình vận chuyển Hình thức vận chuyển Mức hao hụt của xăng(%) Mức hao hụt của dầu(%) Đường thủy 0,025 0,015 Đường sắt 0,06 0,022 Đường ống 0,5 0,25 Đường ô tô 0,08 0,004 Nguồn: Nguyễn Cao Vãng, Kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường, NXB Chính trị Quốc gia năm 1995 - Đặc tính “chuyển hoá hoàn toàn”: nghĩa là thông qua quá trình chuyển hoá về lượng và chất tạo ra công năng mới.
Nói cách khác, quá trình tiêu dùng xăng dầu là quá trình gián tiếp tham gia vào giá trị của các sản phẩm, hàng hóa khác. Đặc tính của xăng dầu có tính đặc biệt như trên nên việc sử dụng xăng dầu trong đời sống và sản xuất không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Việc tiết kiệm xăng dầu trong quá trình sử dụng còn phải xem xét dựa trên nhiều yếu tố, xét trên toàn bộ quá trình hoạt động, sản xuất xem có phù hợp hay không, để không ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của xã hội. Với những đặc tính như trên, có thể thấy những yếu tố khách quan như điều kiện môi trường, khí hậu, quá trình vận chuyển và bảo quản… cũng là các nhân tố có ảnh hưởng tới việc sử dụng hiệu quả mặt hàng này.
Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế tại các quốc gia trên thế giới 2. Vị trí của xăng dầu trong nền kinh tế hiện đại Trước đây, các sản phẩm của xăng dầu chủ yếu để làm chất đốt, chất tẩy các vết bẩn trên quần áo… Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế-xã hội và khoa học kĩ thuật, xăng dầu đã xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như vận tải, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp v.v… Ngày nay, trong bất kì một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào cũng chứa một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng chi phí xăng dầu nhất định. Một trong những ngành tiêu thụ xăng dầu nhiều nhất là ngành giao thông vận tải. Tất cả các phương tiện giao thông hiện đại như xe máy, ô tô, tàu hoả, máy bay, tàu thuỷ… hiện nay đều phải sử dụng nhiên liệu xăng hoặc dầu để vận hành, các loại dầu bôi trơn để bảo dưỡng máy móc.
Trên thực tế, cho tới nay vẫn chưa có một loại nhiên liệu nào dùng cho động cơ có thể thay thế tốt hơn và hiệu quả hơn nhiên liệu xăng dầu. Do đó, trong giá thành sản phẩm ngành vận tải, chi phí xăng dầu chiếm xấp xỉ 40% tổng giá thành, trong ngành sản xuất nhiệt điện, chi phí xăng dầu chiếm 22-25% tổng giá thành, đối với các ngành sản xuất công nghiệp, chi phí xăng dầu khoảng 5-17%, ngành nông nghiệp chi phí xăng dầu chiếm ít hơn, khoảng 3-15%. Riêng đối với ngành nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, chi phí cho ngành này chiếm từ 70-80% tổng phí của một chuyến đi biển5. Có thể thấy chi phí xăng dầu là một bộ phận chi phí quan trọng trong giá thành sản phẩm.
Nó có ảnh hưởng trực tiếp tới tổng giá thành, đồng thời chính là một bộ phận trong cấu thành giá trị sản phẩm. Để đánh giá tầm quan trọng của dầu mỏ đối với các quốc gia người ta có thể căn cứ vào lượng dầu tiêu thụ của các quốc gia đó. Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở các nền kinh tế phát triển liên tục gia tăng trong những năm gần đây. Theo tổng hợp số liệu từ EIA, lượng tiêu thụ xăng dầu của thế giới trong năm 2006 đạt gần 85 triệu thùng dầu mỗi ngày trong đó thị trường Bắc Mỹ tiêu thụ nhiều nhất với hơn 25 triệu thùng mỗi ngày.
Riêng Mỹ là nước tiêu thụ xăng dầu hàng đầu thế giới với gần 21 triệu thùng mỗi ngày năm 2006 và cũng trong năm này tổng lượng dầu tiêu thụ của các nước thuộc OECD đạt gần 50 triệu thùng mỗi ngày chiếm hơn 50% tổng lượng dầu tiêu thụ toàn thế giới6. Trong giai đoạn 2002-2007 tổng lượng dầu tiêu thụ tại các nước thuộc 5 Nguyễn Đình Cát, Bí mật thế giới dầu mỏ, báo Nhân dân (2006) 6 Energy Information Administration( EIA), Office of Energy markets and End Use, International Energy Statistics team.gov/emeu/international/oilconsumption.htm tra cứu ngày 03/02/2009 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com OECD cũng tăng đáng kể. Con số này đạt gần 48 triệu thùng/ngày năm 2002, và đạt 49,1 triệu thùng năm 2007, luôn chiếm hơn ½ tổng lượng dầu tiêu thụ toàn thế giới. Cũng theo số liệu từ EIA trong giai đoạn 2002-2007, Mỹ luôn là nước tiêu thụ xăng dầu nhiều nhất thế giới: 19,8 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2002, liên tục gia tăng trong những năm tíêp theo và đạt gần 20,8 triệu thùng vào năm 2007.
Trung bình Mỹ tiêu thụ gần 21 triệu thùng mỗi năm trong giai đoạn này. Trong giai đoạn 2002-2007 này, khu vực tiêu thụ lượng dầu lớn nhất là Bắc Mỹ, trung bình mỗi ngày tiêu thụ 24-25 triệu thùng. Tiếp đó là khu vực châu Á và châu Đại Dương, kể từ năm 2002 đến nay lượng dầu tiêu thụ ở khu vực này liên tục gia tăng đặc biệt phải kể đến Trung Quốc và Ấn Độ là những nước tiêu thụ dầu lớn trên thế giới. Vai trò của xăng dầu đối với các quốc gia đang phát triển Các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chiếm tới hơn 80% dân số thế giới.
Với những đặc trưng cơ bản như nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và có trình độ khoa học công nghệ thấp. Thực trạng này đòi hỏi các quốc gia này phải nỗ lực rất nhiều trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế. Rất nhiều nền kinh tế đang phát triển vốn là những nước giàu tài nguyên thiên nhiên, trong đó có dầu mỏ nhưng lại là những nước nhập khẩu các sản phẩm dầu mỏ. Theo xu hướng phát triển chung của thế giới nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ của các nước đang phát triển cũng không ngừng gia tăng.
Tuy sản lượng tiêu thụ dầu mỏ nói chung và xăng dầu nói riêng ở các nước đang và kém phát triển thấp hơn các nước phát triển nhưng xăng dầu cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triền kinh tế ở những nước này khi mà hiện nay không có ngành công nghiệp nào là không cần đến sự đóng góp của xăng dầu.