CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Bối cảnh nghiên cứu Khác với các doanh nghiệp phi tài chính, NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, vì vậy ngân hàng trong những năm gần đây càng ngày càng đóng góp vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay, NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi và sử dụng nguồn vốn này đáp ứng các nhu cầu vốn cho nền kinh tế, phân phối nguồn vốn cho các ngành nghề sản xuất kinh doanh trong toàn xã hội, chức năng kinh doanh chính của ngành ngân hàng là chức năng kinh doanh tiền tệ nên hoạt động của ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, sự ổn định hệ thống ngân hàng thương mại góp một phần lớn vào sự ổn định chung cho cả nền kinh tế.
Ngân hàng là bộ máy trung gian quan trọng giữa huy động và cho vay, giúp dòng tiền trong xã hội vận hành hiệu quả. Ngoài ra, với chức năng là trung gian thanh toán, quản lý các phương tiện thanh toán, chức năng tạo tiền (bút tệ), NHTM ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia. Vì vậy, sự ảnh hưởng của ngân hàng đối với cá nhân và với doanh nghiệp là rất lớn, và nó còn ảnh hưởng tới sự vận hành của cả nền kinh tế. Ổn định hệ thống tài chính luôn được chính phủ các quốc gia đặc biệt chú trọng, một hệ thống ngân hàng phát triển ổn định, hiện đại là tiền đề cho sự phát triển của mỗi nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới, được xem như kênh dẫn vốn linh hoạt và hiệu quả với nguồn vốn của ngân hàng được tài trợ chủ yếu là từ các nguồn vốn bên ngoài do tổng tài sản được tài trợ chủ yếu là nợ (Berlin 2011). Như vậy, nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất đối với bất kỳ ngân hàng nào, được xem như là yếu tố đầu vào trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng (Sealey and Lindley 1977). Là 2 doanh nghiệp đặc biệt và có sức ảnh hưởng lớn đối với kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, các NHTM luôn nhận được sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về ngân hàng, chẳng hạn như hiệp ước Basel về lĩnh vực ngân hàng. Do các ngân hàng cho vay và kiếm lợi nhuận dựa trên nguồn tiền của người khác, là nguồn tiền có độ rủi ro cao vì về cơ bản, việc rút tiền có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà khách hàng cần.
Do đó, NHTM sử dụng đòn bẩy cao và tạo ra đòn bẩy tài chính cho tất các các doanh nghiệp khác (Hoque and Pour 2018). Mặt khác, vốn của NHTM có vai trò rất quan trọng, được xem là tấm đệm tài chính, giúp giảm thiểu các rủi ro cũng như các khoản lỗ có thể phát sinh trong tương lai (Ahmad and Albaity 2019). Để đảm bảo các NHTM có đủ vốn, việc vận dụng theo chuẩn mực quốc tế, như khuôn khổ an toàn vốn có trọng số rủi ro do Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, là rất quan trọng. Khi các NHTM có nhiều vốn hơn sẽ có thể an toàn hơn nhưng điều đó lại trái với mong muốn của các nhà quản lý ngân hàng, muốn nắm giữ ít vốn hơn do chi phí của nguồn vốn này cao hơn so với các nguồn vốn khác (Mishkin 2000).
Do đó, đòn bẩy tài chính của các NHTM cần được quy định bởi cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng và đảm bảo ít có sự biến động lớn về tỷ lệ đòn bẩy giữa các ngân hàng (Mishkin 2000). Nhưng trên thực tế, mức độ biến động về tỷ lệ đòn bẩy tài chính thường rất lớn giữa các NHTM, có thể nhận định rằng chưa có một loại hình doanh nghiệp nào sử dụng tỷ số nợ trên vốn cao như các ngân hàng. Đồng thời, những khó khăn phức tạp thường xuyên thay đổi của các quy định pháp lý đối với các ngân hàng luôn hiện hữu. Cũng chính vì lý do đó, hoạt động của ngân hàng cũng chịu sự quản lý chặt chẽ bởi các quy định pháp lý và trong các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn thường loại trừ ngành ngân hàng và các tổ chức tài chính nói chung ra khỏi các mẫu nghiên cứu (Bessler et al.
2013 Fan et al. 2012; Octavia and Brown 2008) bởi vì quy định tuân thủ vốn quyết định cấu trúc vốn của ngành này. Một lý do quan trọng khác để loại trừ các ngân hàng là bảng cân đối kế toán rất khác so với các công ty khác vì thường có tỷ lệ đòn bẩy và nhận tiền gửi rất cao, vì tính chất đặc biệt của định chế tài chính trung gian này và chức năng kinh doanh tiền tệ, hơn nữa các khoản nợ của các ngân hàng có vẻ mang tính khác biệt so với các tổ chức phi tài chính khác (Caglayan and Sak 2010). Bên cạnh đó, lợi nhuận là một yếu tố quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và đối với ngành ngân hàng nói riêng, lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là điều 3 kiện tồn tại và phát triển của ngành ngân hàng.
Khi ngân hàng đạt được mục tiêu lợi nhuận, ngoài việc gia tăng vị thế của mình mà còn tạo nên sự ổn định cho cả nền kinh tế. Bởi vì, NHTM đang nắm giữ một vai trò quan trọng, là một trung gian tài chính thực hiện việc điều chuyển nguồn vốn giữa các tầng lớp trong dân cư, sự ổn định hệ thống NHTM góp một phần lớn vào sự ổn định chung cho cả nền kinh tế. Tuy nhiên, lợi nhuận và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều. Vì vậy, nếu ngân hàng chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà không kiểm soát tốt rủi ro sẽ dẫn đến nợ xấu gia tăng, gây nên những hệ lụy khó lường.
Để đảm bảo NHTM an toàn cho hoạt động kinh doanh trong môi trường nhiều biến động, quyết định cấu trúc vốn hiện nay là một vấn đề quan trọng không chỉ trong doanh nghiệp mà còn trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Trong những năm gần đây, thực trạng hệ thống ngân hàng cho thấy các ngân hàng đang đối diện với tình trạng mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn và tài sản khi sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn làm gia tăng rủi ro thanh khoản, kéo theo tỷ lệ nợ xấu tăng cao gây ảnh hưởng đến an toàn cho hệ thống ngân hàng và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung. Ngoài ra, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã cho thấy vai trò quan trọng của cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tài chính nói chung, và của các ngân hàng thương mại nói riêng, cấu trúc vốn hợp lý không chỉ giúp các ngân hàng thương mại tối đa hoá lợi nhuận, tiết kiệm chi phí mà còn là tấm đệm trước rủi ro phá sản khi nền kinh tế có những biến động mạnh. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào khối ASEAN, khu vực mậu dịch tự do của ASEAN, ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ, gia nhập vào WTO- Tổ chức thương mại thế giới, gia nhập Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào cuối năm 2019.
Cùng với xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam đang cố gắng từng bước hòa nhập với xu thế chung mang tính tất yếu của thế giới, xu thế này cũng tạo ra cho nước ta nhiều cơ hội về giao lưu, học hỏi, ứng dụng những thành tựu khoa học và đặc biệt đã mở đường cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội xuất khẩu hàng hóa, giới thiệu sản phẩm của nước mình đến các nước khác trên thế giới, có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa,… Việc mở cửa ngành ngân hàng cũng đã đem lại những thay đổi to lớn cho ngành này, giúp cho các ngân hàng trong nước tiếp nhận các công nghệ ngân hàng hiện đại, các dịch vụ ngân hàng được chuyên nghiệp và 4 đa dạng hóa. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã và đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài vì vậy hiện nay, các ngân hàng đang trong một cuộc chạy đua khốc liệt- cạnh tranh về vốn, nguồn nhân lực, chất lượng dịch vụ và công nghệ, nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động, gia tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận, đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam phải có những thay đổi nhằm khôi phục sự an toàn và ổn định cho hệ thống ngân hàng. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học Hiện nay, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại đã trở thành chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới và có những cách tiếp cận khác nhau đưa đến những kết luận khác nhau. Cụ thể như sau: Anarfo (2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của ngân hàng tại khu vực Hạ Sahara từ năm 2004 đến năm 2014.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của ngân hàng bao gồm lợi nhuận trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng, tài sản hữu hình, tốc độ tăng trưởng, lạm phát. Fauziah và cộng sự (2020) tìm hiểu các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng Hồi giáo tại Indonesia trong giai đoạn 2010 – 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng là các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng Hồi giáo tại Indonesia. Hoque và Pour (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của 347 ngân hàng trên thế giới từ năm 1998 đến năm 2016.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố thuộc về đặc điểm ngân hàng là tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, quy mô ngân hàng, rủi ro tác động thuận chiều đến cấu trúc vốn. Ngược lại, khả năng sinh lời có tác động nghịch chiều đến cấu trúc vốn của ngân hàng.