mở đầu cho phong trào Thơ mới. Đây chính là quãng thời gian diễn ra quá trình chuyển đổi hệ hình của văn học dân tộc. Trong con mắt của người nghiên cứu, văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX giống như một phòng thí nghiệm không lồ. Người viết văn và người làm văn học trong giai đoạn này cùng chia sẻ một ý thức: họ đang tham dự vào việc kiến tạo cho một cái gi còn chưa hình thành, một thực tế chưa từng ton tại.
Đó cũng là một giai đoạn đặc biệt phong phú về thành phần công chúng và người sáng tác văn học và chính sự đa dạng của đội ngũ tác giả và công chúng đã dẫn đến sự đa dang của những khuynh hướng hiện đại hóa văn học. Như các tác giả của giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 đã chứng minh, có cả hai khuynh hướng cùng đồng thời diễn ra: đổi mới văn học truyền thống và lặng lẽ du nhập, bản địa hóa kiểu mẫu văn học thế giới. Cả hai khuynh hướng đều có những đại diện xuất sắc. Việc đồng thời tồn tại nhiều nhóm tác giả và công chúng với nguồn gốc văn hóa khác nhau khiến cho không một khuynh hướng nào có thé phát triển một cách thuần nhất.
Sự pha trộn và sự thỏa hiệp trở thành khuynh hướng chung của toàn bộ đời sống văn học, như chính cái khẩu hiệu văn hóa được tôn lên tiên phong trong giai đoạn này: “Điều hòa tân cựu - Thổ nạp Âu Á”. Trong một cảm hứng chung chuẩn bị cho một cái gì còn chưa định hình, một cái mới chưa từng có, hàng loạt công việc đã được khởi sự. Người ta bắt tay vào chuẩn hóa và làm mới tiếng Việt. Cảm hứng kiến tạo cái mới kết hợp với tinh than dân tộc đã hình thành một tâm lý phổ biến trong toàn bộ giới trí thức về việc “tổng kiểm kê” lại toàn bộ di sản văn chương quá khứ.
Song song với công việc đó, dịch thuật được đề cao như một thứ “quốc sách”. Dịch thuật đã dẫn đến sự đồng hiện của nhiều truyền thống văn học trong một giai đoạn ngắn, từ văn học Việt Nam đến văn học thế giới, phương Đông và phương Tây, từ những giá trị cô điển nhất đến những giá trị có tính thị trường nhất. Một hiện tượng đặc biệt có ý nghĩa của giai đoạn này là sự hình thành của trường văn học (le champ littéraire) theo ngôn ngữ của xã hội học nghệ thuật hiện đại. Văn học bắt đầu tách khỏi sự lệ thuộc vào những hình thái ý thức xã hội khác dé trở thành một lĩnh vực có tính tự trị tương đối với những quy luật nội tại của chính nó.
Thị trường văn học tồn tại vừa như một thứ bà đỡ (cũng giống như báo chí và các nhà xuất bản) cho sự tự trị của văn học nhưng đồng thời cũng áp đặt quy luật thép của nó lên đời sống văn chương. Song song với khuynh hướng thị trường hóa văn chương là khuynh hướng bảo vệ những giá tri có tính tinh hoa của văn học. Diễn ngôn của những người như Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. biểu hiện rất rõ khuynh hướng này và đồng thời, nó còn được thé hiện qua hàng loạt công trình sưu tầm, dịch thuật, khảo cứu của nhiều nha nghiên cứu có uy tín lúc bay giờ.
Như vậy, ba muơi năm đầu thế kỷ XX hiện lên như là một giai đoạn đặc biệt hấp dẫn đối với người viết văn học sử. Tính hấp dẫn ở đây không phải chỉ thể hiện ở sự tập hợp với mật độ cao “những con voi trắng” - theo ấn dụ của H.Jauss trong công trình Lich sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học - những tác giả lớn của nên văn học. Quan trọng hơn, nó được tạo nên bởi sự độc đáo của các hiện tượng văn học và sự phong phú của các vấn đề văn học sử. Từ góc nhìn lịch sử văn học, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến giai đoạn này trong một tâm thế chung là khôi phục lại một mắt xích còn thiếu của lịch sử dân tộc, ngõ hầu trả lời câu hỏi về sự phát triển liên tục của tiến trình văn học.
Đi sâu tìm hiểu giai đoạn văn học này, chúng tôi đặc biệt chú ý tới một bộ phận tác phẩm có sức sống đặc biệt: các tự sự được người đương thời định danh bằng những tên gọi liên quan đến “tiểu thuyết”. Những biến đổi của văn học Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX diễn ra đều khắp trên tat cả các thể loại. Thế nhưng, trong tương quan các thé loại, hiếm có bộ phận văn chương nào hội đủ tư cách đại điện cho những biến đổi của văn chương trên tiến trình hiện đại hóa như các thể văn tự sự. Nếu so sánh với những giai đoạn trước đó, có thê khăng định chưa bao giờ trong lịch sử văn học dân tộc lại có một sự phát triển mạnh mẽ đến vậy của các thể văn tự sự.
Chỉ trong khoảng ba mươi năm, bộ phận văn học này đã để lại một số lượng văn bản hết sức phong phú. Nó thu hút được một đội ngũ sáng tác hết sức đa dạng. Nó là sản phâm của nhiều khuynh hướng tìm tòi và thể nghiệm khác nhau và nó nằm ở trung tâm các mối quan tâm của xã hội. Nói một cách hình tượng, từ vùng biên của nên văn học, từ thân phận còi cọc trong suốt tiến trình phát triển lịch sử, các thể văn tự sự đã bước thăng vào trung tâm của đời sống văn học và có một sự đột biến về chất.
Vậy, liệu có chăng một mối liên hệ giữa sự phát triển đột biến đó và những vận động mang tính hiện đại hóa của đời sống văn hóa nói chung và văn học nói riêng? Chọn các sự vận động của các thé văn tự sự bằng chữ quốc ngữ trong ba mươi năm đầu thế kỷ làm đối tượng khảo sát của luận án với tiêu đề Sự hình thành hệ thống thé loại tự sự nghệ thuật trong tiễn trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm dau thế ky XX chúng tôi hy vọng có thé trả lời được những câu hỏi trên. LỊCH SỬ VẤN ĐÈ Vấn đề mà chúng tôi khảo sát - tự sự bằng chữ quốc ngữ xuất bản công khai ở Việt Nam trong ba thập niên đầu thế kỷ XX - đã được đề cập đến từ khá sớm, có thể nói, ngay từ giai đoạn khởi đầu của khoa nghiên cứu lịch sử văn học ở Việt Nam nghĩa là từ công trình nghiên cứu văn học sử đầu tiên Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1943). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó đã được giới nghiên cứu, ở những mức độ khác nhau, đề cập đến trong suốt hơn sáu mươi năm qua ở Việt Nam. Trong tiến trình hơn nửa thế kỷ đó, công trình quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định như là một dấu mốc đánh dấu bước phát triển về chất của lịch sử nghiên cứu chính là bộ giáo trình văn học sử Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời của hai tác giả Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng được khởi thảo từ năm 1974 và xuất bản lần đầu năm 1988.
Trong hình dung về lịch sử vấn đề của chúng tôi, đây sẽ được coi như một mốc quan trọng. Ngay từ trước năm 1945, khi những công trình văn học sử đầu tiên do người Việt Nam tiễn hành được khởi thảo, ý thức về sự tồn tại của một giai đoạn bình minh của văn học quốc ngữ đã sớm xuất hiện. Có thê đọc được điều này trong cuốn sử văn học đầu tiên Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, các công trình phê bình văn học của Vũ Ngoc Phan, Lê Thanh, Kiều Thanh Qué hay trong những mảnh hồi ức của các nhà văn như Thạch Lam. Đáng kể nhất trong những công trình này là các cuốn của Duong Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) và Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại).
Việt Nam văn học sử yếu là một cuốn văn học sử bao gồm hai phần: khái quát về văn chương Việt Nam (văn học bình dân, các thể loại, các nguồn ảnh hưởng của Trung Quốc và của Pháp) và lịch sử văn chương Việt Nam tính từ thời Lý Trần cho đến Tự lực văn đoàn. Trong số 46 chương của cuốn sách, có 7 chương dành cho văn học đương đại nghĩa là từ đầu thế kỷ XX cho đến Tự lực văn đoàn. Trong 7 chương này, ông khảo sát một cách khái quát sự ra đời của nền văn học hiện đại bằng chữ quốc ngữ của người Việt từ những nguồn ảnh hưởng nước ngoài, sự ra đời của ngôn ngữ văn học mới, những hình thức phôi thai của nền quốc văn, các thể văn quốc ngữ buổi đầu, một số dịch giả (Nguyễn Văn Vĩnh), học giả (Phạm Quỳnh) và một số nhà thơ (Nguyễn Khắc Hiếu, Đông Hồ, Trần Tuấn Khải). Đóng góp lớn nhất của Dương Quảng Hàm qua công trình này chính là đã xác nhận sự ton tại của một giai đoạn lịch sử văn học và vạch ra một số hướng nghiên cứu hứa hẹn (nghiên cứu văn học so sánh, mối quan hệ giữa văn hoc và ngôn ngữ, nghiên cứu thé loại.) cho những nhà nghiên cứu tiếp theo.
Cùng với Việt Nam văn học sử yếu thì Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan cũng là một công trình lớn có đề cập đến văn học Việt Nam trong giai đoạn sơ khởi. Trong công trình này, tác giả không định dựng một thông sử mang tính khái quát về văn học Việt Nam mà hướng đến việc xây dựng lại diện mạo một giai đoạn văn chương qua tập hợp phê bình các tác giả/ nhóm tác giả tiêu biểu. Trong số 4 phần chính của cuốn sách thì 2 phần đầu được dành cho văn học Việt Nam trong giai đoạn sơ khởi. Trong 2 phần này, tác giả đã khảo sát một tập hợp tác giả phong phú từ Trương Vĩnh Ký, người tiên phong đặt nền móng cho văn học mới bằng chữ quốc ngữ, các nhà văn thuộc nhóm Đồng Dương tap chi (Nguyễn Văn Vinh, Phan Kế Binh, Nguyễn Đỗ Mục), nhóm Nam Phong tạp chí (Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Lam Tan Phác, Tương Phố), các nhà biên khảo (Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Dư, Phan Khôi, Nguyễn Quang Oánh.
Trong một tập hợp phong phú tác gia như trên chỉ có hai tác giả được khảo sát như là những nha văn viết tiêu thuyết đích thực (Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh), ngoài ra, một số những tác phẩm khác cũng được nhắc đến như Quả dua đỏ của Nguyễn Trọng Thuật hay những truyện ngắn kiểu mới của Phạm Duy Tốn.