Khóa luận: Giao lưu và sáng tạo của văn hóa Việt Nam (938-1858)

Dưới đây là các meta tags được tạo cho bài viết: { "ai_description": "Tìm hiểu sự giao lưu và tính sáng tạo của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ văn minh Đại

Trường đại học

Trường Đại học Mở Bán công Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Văn hóa Đông Nam Á

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

1998

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan văn hóa Việt Nam thời kỳ văn minh Đại Việt 938 1858

Văn minh Đại Việt kéo dài từ năm 938 đến năm 1858. Đây là kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài và rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam. Giai đoạn này mở đầu bằng chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền. Thời kỳ này kết thúc khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược tại bán đảo Sơn Trà. Suốt gần một thiên niên kỷ, dân tộc Việt Nam xây dựng nền văn hiến vững mạnh. Nền tảng văn hóa bản địa Đông Sơn được hồi sinh mạnh mẽ. Đất nước đồng thời tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa ngoại sinh. Hai nguồn ảnh hưởng lớn nhất là văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ. Văn hóa vật chất phát triển phong phú từ nông nghiệp, thủ công nghiệp đến thương nghiệp. Văn hóa tinh thần đạt nhiều thành tựu vượt bậc về tư tưởng, tôn giáo, kiến trúc và nghệ thuật. Đạo Phật, Đạo giáo và Nho giáo cùng tồn tại hòa hợp. Khóa luận tốt nghiệp đại học về chủ đề này làm sáng tỏ quy luật giao lưu văn hóa. Nghiên cứu giúp khẳng định bản lĩnh độc lập và năng lực sáng tạo của tổ tiên.

1.1. Bối cảnh lịch sử và các giai đoạn phát triển

Lịch sử văn minh Đại Việt chia thành hai giai đoạn lớn. Giai đoạn thứ nhất từ thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đến thời Lý, Trần (939-1400). Đây là thời kỳ định hình thiết chế quốc gia và củng cố chủ quyền. Giai đoạn thứ hai từ thời Hồ, Hậu Lê, Mạc, Trịnh - Nguyễn đến Tây Sơn và nhà Nguyễn (1400-1858). Giai đoạn này chứng kiến sự mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Cùng với đó là sự phân hóa chính trị sâu sắc. Tình hình kinh tế và xã hội có nhiều chuyển biến quan trọng. Nông nghiệp lúa nước luôn giữ vai trò trụ cột. Thương mại đường biển phát triển rực rỡ tại các thương cảng như Phố Hiến và Hội An. Mỗi thời kỳ đều để lại những dấu ấn văn hóa đặc sắc.

1.2. Khái niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa

Giao lưu văn hóa là sự tương tác giữa các cộng đồng người khác nhau. Quá trình này diễn ra qua tiếp xúc thương mại, tôn giáo hoặc chính trị. Tiếp biến văn hóa là sự biến đổi văn hóa do tiếp xúc trực tiếp. Người Việt tiếp nhận các giá trị ngoại lai một cách chủ động. Nền văn hóa ngoại nhập không thay thế hoàn toàn văn hóa bản địa. Yếu tố ngoại sinh bị khúc xạ qua lăng kính phong tục dân gian. Các triết lý Nho - Phật - Đạo được Việt hóa sâu sắc. Tinh thần độc lập dân tộc tạo nên màng lọc văn hóa vững chắc. Màng lọc này giúp loại bỏ yếu tố độc hại và dung nạp tinh hoa tiến bộ.

II. Phân tích tính sáng tạo của văn hóa Việt Nam qua các triều đại

Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ văn minh Đại Việt bộc lộ rõ tính năng động và sáng tạo. Sự sáng tạo diễn ra mạnh mẽ trên cả hai lĩnh vực vật chất và tinh thần. Về mặt vật chất, kỹ thuật đúc đồng, làm gốm và xây dựng thành lũy đạt trình độ cao. Kiến trúc chùa chiền và cung điện mang bản sắc riêng biệt. Điêu khắc rồng thời Lý - Trần thể hiện nét mềm mại, uyển chuyển, khác biệt với hình tượng rồng phương Bắc. Về mặt tinh thần, sự kết hợp giữa Tam giáo đồng nguyên tạo nên môi trường tư tưởng cởi mở. Phật giáo nhập thế sâu sắc trong đời sống chính trị thời Lý - Trần. Tầng lớp tăng lữ tham gia quản lý đất nước và cố vấn quân sự. Nho giáo được tiếp thu để củng cố bộ máy nhà nước từ thời Hậu Lê. Tuy nhiên, Nho giáo Việt Nam vẫn gắn bó chặt chẽ với lợi ích dân tộc và phong tục làng xã. Tinh thần yêu nước luôn giữ vai trò chi phối tối cao. Chữ Nôm ra đời là minh chứng đỉnh cao cho sự sáng tạo ngôn ngữ. Các tác phẩm văn học Nôm phản ánh chân thực tâm hồn và khát vọng của người Việt.

2.1. Dấu ấn sáng tạo trong văn hóa vật chất

Văn hóa vật chất thời Đại Việt mang đậm tính thực tiễn và thẩm mỹ. Nghề gốm men ngọc thời Lý và men hoa lam thời Lê phát triển vượt bậc. Gốm Việt Nam xuất khẩu sang nhiều quốc gia Đông Nam Á và Tây Á. Kiến trúc thành quách thể hiện tài năng xây dựng quân sự độc đáo. Thành nhà Hồ xây bằng đá tấm lớn là công trình kiệt xuất. Hoàng thành Thăng Long kết hợp tinh tế giữa phong thủy và kiến trúc truyền thống. Tháp Báo Thiên và chùa Một Cột là những biểu tượng văn hóa tiêu biểu. Người thợ thủ công khéo léo kết hợp mô típ rồng phượng với hoa sen và cúc vạn thọ. Các sản phẩm đều phục vụ đời sống dân sinh và bảo vệ bờ cõi.

2.2. Sự biến chuyển trong văn hóa tinh thần và tư tưởng

Văn hóa tinh thần thời kỳ này ghi nhận bước tiến lớn về tư tưởng. Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông sáng lập là đỉnh cao tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Dòng thiền này đề cao tinh thần nhập thế và gắn đạo với đời. Nho giáo từng bước giữ vai trò chủ đạo từ thế kỷ mười lăm. Văn Miếu - Quốc Tử Giám trở thành trung tâm đào tạo nhân tài cho đất nước. Bia tiến sĩ Văn Miếu tôn vinh trí thức và khuyến khích hiền tài giúp nước. Nghệ thuật ca múa nhạc và chèo tuồng dân gian phát triển sôi nổi. Văn học chữ Nôm với các danh nhân như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương khẳng định tiếng nói dân tộc độc lập.

III. Phương pháp nghiên cứu giao lưu văn hóa trong khóa luận đại học

Nghiên cứu chủ đề giao lưu và sáng tạo văn hóa đòi hỏi hệ thống phương pháp luận chặt chẽ. Khóa luận tốt nghiệp đại học cần kết hợp nhiều cách tiếp cận liên ngành. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện diễn trình phát triển văn hóa qua các mốc thời gian cụ thể. Phương pháp logic hỗ trợ khái quát hóa các quy luật tiếp biến văn hóa. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh văn hóa đối chiếu các hiện vật và văn bản giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Phương pháp điền dã dân tộc học cung cấp tư liệu khảo sát thực tế tại các di tích và làng nghề cổ truyền. Khóa luận cần khai thác nguồn tư liệu lịch sử tin cậy. Các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư hay Khâm định Việt sử thông giám cương mục là tài liệu quan trọng. Nguồn khảo cổ học và văn bia Hán Nôm đem lại bằng chứng xác thực. Việc phối hợp các phương pháp đảm bảo tính khách quan và khoa học cho công trình nghiên cứu.

3.1. Phương pháp liên ngành và thu thập tư liệu

Tiếp cận liên ngành là nguyên tắc cốt lõi khi nghiên cứu văn hóa học. Sinh viên cần kết hợp kiến thức lịch sử, khảo cổ học, xã hội học và văn học. Khâu thu thập tư liệu yêu cầu kiểm chứng nguồn gốc nghiêm ngặt. Nguồn thư tịch cổ phải được tra cứu từ các bản dịch chuẩn xác. Các nguồn thư tịch bao gồm chính sử, gia phả, địa chí và hương ước. Tư liệu điền dã đòi hỏi ghi chép tỉ mỉ tại thực địa. Phỏng vấn nghệ nhân và quan sát lễ hội giúp bổ sung góc nhìn sinh động. Sự tích hợp này bảo đảm chiều sâu học thuật cho đề tài.

3.2. Khung phân tích cấu trúc khóa luận tốt nghiệp

Cấu trúc khóa luận chuẩn mực bao gồm ba phần chính. Phần mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu và phạm vi khảo sát. Phần nội dung thường triển khai thành ba chương rõ ràng. Chương một phân tích bối cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội. Chương hai tập trung vào sự giao lưu và sáng tạo trong văn hóa vật chất. Chương ba luận giải chiều sâu của văn hóa tinh thần và hệ tư tưởng. Phần kết luận tổng kết các kết quả nghiên cứu chính và nêu kiến nghị khoa học. Khung phân tích này giúp người viết lập luận logic và mạch lạc.

IV. Ứng dụng giá trị văn minh Đại Việt vào bảo tồn di sản đương đại

Văn minh Đại Việt giai đoạn 938-1858 để lại kho tàng di sản vô giá cho dân tộc. Tinh thần độc lập tự chủ và năng lực sáng tạo văn hóa vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc nghiên cứu thời kỳ này cung cấp bài học quý giá về hội nhập quốc tế. Quá trình tiếp thu văn hóa nước ngoài luôn phải song hành với việc giữ gìn bản sắc cội nguồn. Di sản vật chất như đền đài, chùa tháp và làng nghề cổ cần được bảo tồn bằng giải pháp công nghệ hiện đại. Di sản tinh thần như truyền thống nhân văn, tinh thần đoàn kết và đạo hiếu cần được lan tỏa trong giáo dục. Việc ứng dụng chuyển đổi số vào số hóa di sản giúp quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Các công trình nghiên cứu học thuật tạo nền móng vững chắc cho công tác hoạch định chính sách văn hóa quốc gia.

4.1. Bài học lịch sử về hội nhập và giữ gìn bản sắc

Bài học lớn nhất từ thời kỳ văn minh Đại Việt là sự tự tin văn hóa. Dân tộc Việt Nam không đóng cửa khép kín trước các luồng tư tưởng ngoại lai. Ngược lại, người Việt chủ động tiếp thu để làm giàu cho bản sắc dân tộc. Tinh thần độc lập luôn là ngọn đuốc soi đường trong mọi cuộc giao lưu. Hội nhập quốc tế ngày nay cần kế thừa bài học lịch sử sâu sắc này. Đất nước tiếp thu công nghệ và tri thức tiên tiến của thế giới nhưng không đánh mất cội nguồn. Giữ vững bản sắc dân tộc là chìa khóa để phát triển bền vững.

4.2. Khai thác di sản phục vụ phát triển văn hóa và du lịch

Di sản văn minh Đại Việt là nguồn tài nguyên to lớn cho công nghiệp văn hóa. Các khu di tích như Hoàng thành Thăng Long, Cố đô Huế hay phố cổ Hội An thu hút hàng triệu du khách. Việc bảo tồn di sản cần kết hợp hài hòa với phát triển du lịch bền vững. Các bảo tàng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thực tế ảo để tăng tính trải nghiệm. Nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, nhã nhạc cung đình cần được tạo không gian biểu diễn đương đại. Sự kết hợp này vừa tạo sinh kế cho cộng đồng, vừa nuôi dưỡng tình yêu di sản cho thế hệ trẻ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Sự giao lưu và tính sáng tạo của văn hóa việt nam trong thời kỳ văn minh đại việt 938 1858 khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho tục lệ này ở đất nước. Về đối ngoại nhà vua tuy thần phục nhà Tống và chịu lệ cống nhưng hoàn toàn không lệ thuộc gì cả. Về kinh tế thời hậu Lê thì kinh tế nông nghiệp là chủ yếu Cũng giống như các triều Ngô, Đinh, nhà hậu Lê cũng rất chú ý đến vấn đề thủy lợi, hệ thống giao thông được mở mang. Các nghề thủ công như dệt, nghề gốm và nghề khai thác mỏ, luyện kim.

đều được phát triển. Nhờ ngành thủ công nghiệp phát triển cao nên Lê Đại Hành xây được một cung điện làm nơi coi châu, cột nhà thếp vàng, ngói bằng bạc. Ngoài ra về các loại hình giải trí, Lê Đại Hành kiến tạo lại trò chơi dua thuyén, tổ chức hội hoa đăng, hội đánh cá. Vua Lê đã lấy thuyết Phật giáo làm tư tưởng chủ đạo cho việc trị dân.

Thời nhà Lê sau khi đất nước giành được độc lập, những nhà nho được đào tạo theo kiểu Trung Hoa bị gạt ra ngoài đời sống chính trị. Nhà nước trọng dụng những nhà sư và họ đã có một vai trò quan trọng trong việc cai trị đất nước.4 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội thời nhà Lý (1010- 1225) 1.1_ Tình hình chính trị: Sau khi Lê Long Đĩnh chết, triều đình tôn Lý Công Uẩn một người có uy tín, có thế lực và năng lực, lên làm vua, lập triều Lý (1009-1225) .Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy hiệu là Lý Thái Tổ .Nhà Lý có tám đời vua nên sử sách thường gọi là Lý Bát Đế. Năm 1010 Lý Công Uẩn hạ chiếu đời đô ra Thăng Long, từ đấy Thăng Long là kinh đô trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước. Vua ở ngôi được mười chín, năm mất năm 1028.

Hoàng Tử Lý Phật Mã lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tông. Ông và vị vua nhân từ độ lượng. Ông làm vua được hai mươi bẩy năm thì mất. Năm 1054, Lý Thánh Tông lên ngôi đổi tên nước thành Đại việt.

Nhà Lý rất quan tâm bảo vệ non sống gấm vóc, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập, tự chủ của dân tộc. Cuộc đấu tranh vì chủ quyền lãnh thổ điễn ra lâu dài và liên tục. Phía Bắc nhà Tống thường xuyên mưu toan mở rộng lãnh thổ, nhiều lần cho quân xâm lấn và phát động chiến tranh xâm lược. Ở phía Nam, vương quốc Luin Odn Fé6t Wghiép Frang § Chiêm Thành thường đem binh thuyền quấy phá vùng biên giới và ven biển nước ta, các vua Lý phải nhiều lần đánh dẹp.

Vua Thánh Tông mất vào năm 1072, thái tử Càn Đức con của vua Lý Thánh Tông cùng bà Ÿ Lan, mới bảy tuổi lên làm vua lấy hiệu là Lý Nhân Tông, quan thái sư Lý Đạo Thành làm phụ chính. Đặc biệt dưới triều Lý - Nhân Tông có cuộc phá Tống của Lý Thường Kiệt mà nó để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử nước nhà. Lý Nhân Tông mất năm 1127 làm vua“ được 56 năm. Vì vua Nhân Tông không có con nên đã lập con của người em lên làm thái tử.

Đó là Lý Thần Tông lúc ấy mười ba tuổi. Tuy vua nhỏ tuổi nhưng các quan đại thân hết lòng giúp đỡ nên trong nước được yên ổn, ít loạn lạc. Lý Thân Tông làm vua được mười năm thì mất, con là Lý Anh Tông mới ba tuổi đã làm vua được Tô Hiến Thành phụ tá đắc lực nên việc triều chính vẫn ổn định. Khi Lý Anh Tông mất, con là Lý Cao Tông lên nối ngôi cũng chỉ mới có ba tuổi.

Nhà Lý bắt đâu suy vong từ đây kế thừa sự nghiệp nhà Tiên Lê, nhà Lý xây dựng chính quyển theo lối chỉ quy. Đứng đầu là vua, tiếp đến là các đại thân văn võ trong triều chia thành chín bậc. Bộ máy hành chính địa phương gồm các phủ, lộ, huyện và các hương giáp. Ở vùng xa có các châu trại, Lý Thái Tổ chia nước thành 24 lộ và hai trại.

Về tâng lớp quý tộc đời Lý thì có một đẳng cấp xãhội trẻ đang độ phát triển. Xu hướng cát cứ của quý tộc chưa phải là hình tương phổ biến sự đối lập trong nội bộ chính quyền hoặc sự đối kháng giai cấp chưa cao. Đặc điểm này đã tạo nên một không khí chính trị lành mạnh trong giới cẩm quyển và trong cả nước nói chung tạo nên thế mạnh cho chính quyền cho cả nước trong mối quan hệ đối nội cũng như trước những thử thách ngặt nghèo của ngoại xâm.9 Về xã hội: Trong cấu trúc xã hội thời Lý hệ thống cộng đồng làng xã đã đóng góp một vai trò rất quan trọng. Có thể coi đây là nền tảng là cơ sở của cả cấu trúc trong đó bao gồm đông đảo những người nông dân và các thợ thủ công tức thành phân chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho công cuộc xây dựng sức mạnh phòng vệ.

Mỗi làng xã Đại việt là một tế bào xã hội. Ở đó những hộ nông dân sống quân tụ, gắn bó trong mối quan hệ vừa là thân tộc vừa là lang giéng. Trong điều kiện kinh tế hàng hóa chưa phát triển mạnh, các làng xã nông nghiệp còn tương đối khép kín, tự cung tự cấp. Ở đây bên cạnh một hệ thống chính quyển cấp xã mang tính chất nhà nước gồm các “quản giáp” các xã trưởng, các đại hoặc tiểu tư xã những người đại diện của chính quyển nhà nước còn tổn tại song song một hệ thống quyển lực mang tính chất Luda ( Odu Fét Vyghiéep Cang Li 9 công xã cổ truyền do dân cư, gồm các bô lão, những già làng, những tộc trưởng có uy tín cùng tham gia quản lý làng xã.

Đối với lực lượng nông đân thì họ sống thuần hậu, chất phác và cần mẫn với việc đồng áng, tham gia nghĩa vụ đối với nhà nước như đóng tô thuế lao dịch và binh dịch trong thời bình. Khi có chiến tranh họ là lực lượng đông đảo nhất tham gia quân đội của nhà nước hoặc các đôi đân binh đánh giặc tại chỗ với ý thức giữ gìn làng nước. Họ cũng là đối tương bóc lột, thống trị của giới quý tộc phong kiến. Dưới cùng của bậc thang xã hội Đại Việt là tầng lớp nông nô, nô tỳ.

Phát triển tương đối mạnh về số lượng. Lúc đó, tầng lớp qúý tộc địa. chủ đang là lực lượng quan trọng ủng hộ chính quyền và đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Họ được nhà nước cho phép nuôi người phục dịch, chiêu mộ dân nghèo, người lưu tán, khai phá đất hoang lập các trang trại.

Hình thức kinh doanh nông nghiệp đó đã tạo ra tầng lớp lao động có địa vị thấp kém. Nông nô, nô tỳ cũng là lực lượng quân sự của các vương hầu quý tộc, tham gia bảo vệ trị an và đánh giặc giữ nước. Ở thời Lý, xu hướng khai phá đất hoang để phát triển điện tích cư trú và canh tác-ra vùng biển vẫn được tiến hành. Đồng bằng và làng xóm của người Đại Việt, lưu vực của các con sông lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã trở thành địa bàn cư trú chủ yếu của cư dân thuở ấy.

Nước Đại Việt vốn từ xưa đã bao gồm một cộng đồng dân tộc nhiều tộc người, trung tâm là người Việt ở vùng trung du và nhất là vùng núi là địa bàn sinh sống của các dân tộc khác nhu Mường, Tày, Thái, Mèo, Nùng, Dao. Thời Lý cư dân vùng rừng núi gần biên giới phía bắc là người Tày, Mán, Nùng. Họ cư trú thành từng động, bản do các tộc trường có uy tín đứng đầu. Như vậy từ thời Lý, Đại Việt đã là một quốc gia đa tộc có đa số có thiểu số, phân bổkhắp lãnh thổ gồm miễn núi, trung du và đồng bằng.

Tuy trình độ phát triển có khác nhau nhưng từ sớm họ đã cố kết đùm bọc, chung lưng đấu cật cùng nhau dựng nước và giữ nước. “Trong xã hội thời Lý, người nông dân công xã vẫn bảo lưu những phong tực tập quán cổ truyền, vẫn duy trì quan hệ cộng đồng chặt chẽ sớm kết hợp ý thức tình làng nghĩa xóm với ý thức quốc gia dân tộc, nước gắn liền với làng. Về tôn giáo, phong kiến vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong xã hội phật giáo được truyền bá rộng rãi trong quần chúng và có dấu ấn trên mọi sinh hoạt văn hóa. Tuy nhiên ở thời Ly, Nho giáo ban đầu xuất hiện, có địa vị trong xã hội nhưng rất ít, tuy vậy chế độ giáo - dục và thi cử theo tỉnh thân Nho giáo cũng chỉ mới bắt đầu.

“Cuậumn (Oău Cối Oghiép Frang 10 1.3 Vé Kinh té: Trong xã hội thời Lý nên kinh tế Nông nghi ệp giữ vai trò chủ đạo và là cơ sở của mọi hoạt động trong nước. Chính quyền phong kiến coi trọng nghề nông và đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp. Sức lao động và sức kéo trong nông nghiệp được nhà nước bảo vệ. Quân lính thay phiên nhau làm ruộng, nông dân có ruộn g cày, xóm làng ổn định.

Trâu bò được bảo vệ, không những việc trộm trâu bị trừng phạt nặng mà ngay cả việc giết trâu sở hữu của mình cũng bị ngăn cấm. Các công trình khẩn hoang và thủy lợi được tiến hành hàng năm, quy mô ngày một lớn. Đê Cơ Xá được đắp vào, triều Lý Nhân chống được lụt của sông Hồng. Nông nghiệp Tông đã giúp thời nhà Lý nhờ vậy đã được phát triển và nuôi được đân chúng.

Về thủ công nghiệp, dưới thời Lý các nghề thủ công trong nước được tạo điều kiện phát triển nghề đệt đã phát triển đáng kể, sản xuất đủ loại từ gấm đoạn, lụa cho đến vải SỢI. Nghề gốm sứ có truyền thống từ lâu đời đến thời Lý đã tiến thêm một bước khá dài và đạt được trình độ cao về sản xuất cũng như về nghệ thuật. Giao thông và buôn bán cũng được phát triển các con đường giao thông thủy bộ được mở mang. Việc buôn bán với nước ngoài rất phát triển.5 Tinh hinh kinh té chinh tri x4 hội thời Trần (1125-1400) 1.1 Vé Chinh tri: Từ khi vị vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông (Con của Lý Cao Tông) lấy con gái của Trần Lý một gia đình giàu có và thế lực ở làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định là Trần Thị Dung làm hoàng hậu.

Từ đấy họ Trần uy thế rất nhiều. Hai người anh của hoàng hậu là Trân Thừa và Trần Tự Khánh cùng người em họ là Trần Thú Độ giữ các chức vụ chủ chốt trong triều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ