Khóa luận: Tìm hiểu văn hóa dân tộc Xtiêng ở Bình Phước - Lý Thị Bích Quyên

Nghiên cứu chi tiết về văn hóa dân tộc Xtiêng ở tỉnh Bình Phước thông qua khóa luận tốt nghiệp đại học. Phân tích đặc trưng văn hóa, lịch sử và giá trị truyền

Trường đại học

Đại học Mở - Bán công TP. Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Văn hóa Đông Nam Á

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp đại học

1998

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về văn hóa dân tộc Xtiêng Bình Phước

Văn hóa dân tộc Xtiêng tại tỉnh Bình Phước là di sản quý giá của cộng đồng cư trú chủ yếu ở vùng đông bắc tỉnh. Đây là một tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á, có lịch sử cư trú lâu đời gắn bó với rừng núi. Nền văn hóa Xtiêng thể hiện rõ nét qua tổ chức xã hội bộ lạc, tín ngưỡng đa thần và các nghi lễ nông nghiệp. Các nghiên cứu khảo cổ và tư liệu lịch sử cho thấy người Xtiêng đã xây dựng nên hệ thống xã hội cổ truyền dựa trên bon làng (làng truyền thống) với quản lý theo chế độ trưởng lão. Đặc biệt, văn hóa vật chất như nhà dài, trang phục tự nhiên cùng đời sống tinh thần phong phú là những dấu ấn nhận diện tộc người này. Việc nghiên cứu văn hóa Xtiêng không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc dân tộc mà còn phản ánh quá trình tương tác văn hóa giữa các cộng đồng trong khu vực Đông Nam Á.

1.1. Nguồn gốc và phân bố dân tộc Xtiêng

Dân tộc Xtiêng có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, thuộc ngữ hệ Nam Á. Tại Bình Phước, họ phân bố chủ yếu ở các huyện Bù Gia Mập, Bù Đốp, Bù Đăng và Chơn Thành. Theo các tư liệu lịch sử, người Xtiêng di cư từ vùng cao nguyên phía bắc vào địa bàn Bình Phước từ thế kỷ XVI-XVII. Họ sinh sống tập trung trong các bon làng, mỗi bon thường có 20-30 hộ gia đình. Địa bàn cư trú của người Xtiêng gắn liền với các dòng sông, suối như Đắk R’lấp, Đắk Glun, tạo nên những nét văn hóa đặc trưng vùng sông nước. Ngày nay, dân số Xtiêng tại Bình Phước ước tính khoảng 20.000 người, chiếm tỷ lệ đáng kể trong cộng đồng dân tộc thiểu số của tỉnh.

1.2. Đặc điểm xã hội cổ truyền người Xtiêng

Xã hội cổ truyền người Xtiêng tổ chức theo chế độ mẫu hệ với bon làng là đơn vị cơ sở. Mỗi bon có trưởng làng (pô) đứng đầu, quản lý tài nguyên đất rừng và phân công lao động. Hệ thống dòng họ (kơlong) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội. Phụ nữ Xtiêng có vị thế cao trong gia đình và xã hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của bon. Các nghi lễ vòng đời như sinh nở, trưởng thành, hôn nhân đều do phụ nữ chủ trì. Xã hội Xtiêng còn có hệ thống luật tục (kê) điều chỉnh hành vi cộng đồng, đảm bảo sự ổn định trong sinh hoạt.

II. Phân tích đặc trưng văn hóa vật chất người Xtiêng

Văn hóa vật chất của người Xtiêng thể hiện rõ nét qua kiến trúc nhà ở, trang phục và công cụ sản xuất. Nhà dài là biểu tượng văn hóa độc đáo, vừa là nơi sinh hoạt vừa là không gian cộng đồng. Trang phục truyền thống làm từ vải tự dệt, trang trí hoa văn độc đáo thể hiện bản sắc tộc người. Công cụ sản xuất như rìu, gậy chọc lỗ, dụng cụ săn bắn phản ánh trình độ kỹ thuật chế tác. Đặc biệt, hệ thống dụng cụ nông nghiệp như cày, cuốc gỗ chứng tỏ nền nông nghiệp lúa rẫy phát triển. Việc nghiên cứu văn hóa vật chất không chỉ giúp nhận diện tộc người mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Các hiện vật khảo cổ tại Bình Phước như đồ gốm, công cụ đá cho thấy người Xtiêng đã có nền văn hóa vật chất phong phú từ thời kỳ sơ sử.

2.1. Kiến trúc nhà dài truyền thống

Nhà dài người Xtiêng Bình Phước có chiều dài 20-30 mét, rộng 5-7 mét, chia thành hai phần chính: phần sinh hoạt chung và phần sinh hoạt riêng. Phần sinh hoạt chung có bếp lửa trung tâm, nơi gia đình tụ họp và thực hiện các nghi lễ. Phần sinh hoạt riêng dành cho các gia đình nhỏ, ngăn cách bằng vách tre nứa. Mái nhà lợp tranh dày, kéo dài gần chạm đất tạo thành hình lưỡi liềm. Cửa ra vào thường ở hai đầu nhà, có cầu thang tre dẫn lên. Nhà được xây dựng bằng vật liệu tự nhiên như gỗ, tre, lá. Tại Bình Phước, hai nhóm Xtiêng Bù Lớ và Bù Đek có sự khác biệt trong thiết kế nhà: nhóm Bù Lớ thường xây gần sông suối nên nhà thấp hơn, trong khi nhóm Bù Đek xây trên đồi cao với nhà cao hơn.

2.2. Trang phục và trang sức đặc trưng

Trang phục truyền thống người Xtiêng gồm áo, váy, khăn đội đầu và trang sức. Nam giới mặc áo chui đầu ngắn, váy xếp li, đội khăn quấn đầu. Phụ nữ mặc áo dài, váy dài xếp nếp, đeo nhiều vòng tay, vòng cổ bằng đồng, hạt cườm. Hoa văn trên trang phục thường là các họa tiết hình học như hình thoi, hình chữ nhật, biểu tượng mặt trời. Trang sức không chỉ có tác dụng thẩm mỹ mà còn thể hiện địa vị xã hội. Đàn ông thường đeo khuyên tai bạc, phụ nữ đeo vòng cổ nhiều tầng. Ngày nay, trang phục truyền thống dần được thay thế bằng trang phục hiện đại, nhưng vẫn được giữ gìn trong các dịp lễ hội quan trọng.

III. Khám phá đời sống tinh thần và tín ngưỡng Xtiêng

Đời sống tinh thần người Xtiêng phản ánh qua hệ thống tín ngưỡng đa thần, nghi lễ nông nghiệp và các phong tục tập quán. Họ tôn thờ các vị thần tự nhiên như thần đất, thần rừng, thần sông suối thể hiện mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên. Hệ thống nghi lễ nông nghiệp gắn liền với chu kỳ sản xuất, cầu mong mùa màng bội thu. Các nghi lễ vòng đời như sinh nở, trưởng thành, hôn nhân đều có ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Việc nghiên cứu đời sống tinh thần giúp hiểu rõ hơn về tư duy và giá trị văn hóa của tộc người. Đặc biệt, hệ thống ma thuật, bùa chú trong đời sống hàng ngày cho thấy sự kết nối giữa con người và thế giới siêu nhiên.

3.1. Hệ thống tín ngưỡng đa thần

Người Xtiêng tin vào thế giới siêu nhiên với nhiều vị thần chi phối cuộc sống. Họ thờ thần đất (Yàng Ñu), thần rừng (Yàng Brơi), thần sông suối (Yàng Ñak), thần lúa (Yàng M’lú). Mỗi vị thần có vai trò riêng: thần đất bảo vệ con người, thần rừng ban tặng lâm sản, thần sông suối mang lại nguồn nước. Để cầu xin sự che chở, người Xtiêng thực hiện các nghi lễ cúng tế bằng heo, gà, rượu cần. Các thầy cúng (pơtao) đóng vai trò trung gian giữa con người và thần linh. Họ sử dụng các bài cúng bằng tiếng Xtiêng, kèm theo vũ điệu và tiếng chiêng trống. Hệ thống tín ngưỡng này phản ánh tư duy huyền thoại và mối quan hệ mật thiết giữa con người và môi trường tự nhiên.

3.2. Nghi lễ nông nghiệp và vòng đời

Nghi lễ nông nghiệp của người Xtiêng gắn liền với chu kỳ trồng trọt. Lễ cúng thần lúa (M’lú) được tổ chức trước khi gieo hạt, cầu mong mùa màng tươi tốt. Lễ hội mừng lúa mới (Lễ Bỏ mả) là dịp quan trọng nhất, thể hiện lòng biết ơn thần linh. Các nghi lễ vòng đời như sinh nở (lễ đặt tên), trưởng thành (lễ cắt tóc, xăm mặt), hôn nhân đều có sự tham gia của cả bon. Đặc biệt, lễ cưới truyền thống kéo dài nhiều ngày, với các nghi thức như trao trầu cau, uống rượu cần, trao của hồi môn. Sau khi chết, người Xtiêng tổ chức lễ bỏ mả kéo dài 3-5 ngày, thể hiện quan niệm về sự sống sau cái chết.

IV. Ứng dụng nghiên cứu văn hóa Xtiêng trong bảo tồn di sản

Nghiên cứu văn hóa Xtiêng không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn trong công tác bảo tồn di sản. Việc hệ thống hóa tri thức dân gian giúp xây dựng chương trình giáo dục cộng đồng về bản sắc văn hóa. Các mô hình bảo tồn như bảo tàng sinh thái, du lịch cộng đồng có thể khai thác tri thức Xtiêng để phát triển kinh tế địa phương. Chính sách hỗ trợ phát triển văn hóa dân tộc cần quan tâm đến việc ghi chép, lưu trữ các nghi lễ, phong tục. Ngoài ra, nghiên cứu này còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của di sản văn hóa trong xây dựng đời sống tinh thần. Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sẽ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Xtiêng trong bối cảnh hiện đại.

4.1. Giải pháp bảo tồn kiến trúc nhà dài

Để bảo tồn kiến trúc nhà dài truyền thống, cần xây dựng quy hoạch bảo tồn tại các bon làng Xtiêng. Chính quyền địa phương nên hỗ trợ kinh phí cho người dân tu sửa nhà theo kiểu truyền thống, đồng thời xây dựng bảo tàng ngoài trời trưng bày nhà dài. Việc đào tạo thợ thủ công lành nghề để chế tác vật liệu xây dựng truyền thống như tranh, tre, gỗ cũng rất quan trọng. Ngoài ra, cần xây dựng các tour du lịch trải nghiệm tại bon làng, giúp du khách hiểu rõ hơn về văn hóa Xtiêng. Các chương trình giáo dục trong trường học cũng nên đưa kiến thức về kiến trúc nhà dài vào giảng dạy, nâng cao ý thức bảo tồn cho thế hệ trẻ.

4.2. Phát huy giá trị văn hóa trong giáo dục

Việc đưa văn hóa Xtiêng vào chương trình giáo dục có thể thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ tại trường học. Cần biên soạn tài liệu giảng dạy về lịch sử, phong tục, tín ngưỡng Xtiêng phù hợp với từng cấp học. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu văn hóa dân tộc sẽ khơi dậy niềm tự hào về bản sắc dân tộc trong học sinh. Ngoài ra, việc mời các nghệ nhân dân gian đến trường để truyền dạy nghề dệt, làm nhạc cụ truyền thống cũng là cách hiệu quả để gìn giữ di sản. Chính quyền địa phương nên hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động này, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn văn hóa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Bước đầu tìm hiểu văn hóa dân tộc xtiêng ở tỉnh bình phước khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I1: KHÁI QUÁT VỀ MÔI SINH - ĐỊA LÝ ~ DẦN CƯ 1. Môi sinh - Địa lý. HH HH NT HH se 1. Lịch sử tộc người.3, Dân số và dân cư.eei CHƯƠNG2 : TỔ CHỨC XÃ HỘI CỔ TRUYÊN 21 Buồn lang .1 Tổ chức qquản lýxxãä hội c cổổ truyền 2.2 Các tầng lớp trong xã hội cổ truyển' - 2.3 Các mối quan hệ xã hội 2⁄22.

Hôn nhân — Gia đình.1 Một vài đặc điểm tường hôn nhân 2. 26 _ CHƯƠNG 3 :HOẠT ĐỘNG KINH TẾ.2 Chăn nuôi — Săn bắn và hái lượm —.2-Săn bắn và hái lượm 3. Các ngành nghề thủ công 71.3 Nghề aan lát mây tre 3. Kinh tế trao đổi.

th TH HH HH H HH kh Hee. EQ CHUONG 4 4: VAN HOA VAT CHAT VA DOI SONG VAN HOA TINH THAN 4.1 Nhà ở 4,2 Y phục — trang sức 4. DOISONG TINH THAN (Tr 47) 4.4 Tin ngưỡng 4.5 Các lễ nghĩ, phong tục trong chu kỳ đời sống 4.1 Những nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp .2 Những nghi lễ tập tục trong hồn nhân 4.3 Niềm tin vào nghỉ lễ trong tang ma.4 Một vài hủ tục và những điều cấm ky. KẾT LUẬN TẢI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC PHAN MO BAU no ~ DAN NHAP 1, Lý đo chọn đề tài Ngày nay, dưới tác động của những nhân tố kinh tế — xã hội mới, quá trình giao tiếp, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong một quốc gia, giữa các qưốc gia với nhau , giữa phương Đông và phương Tây đang diễn ra mạnh mẽ.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa hoc kỹ thuật và các phương tiện thông tin đại chúng càng góp phần thúc đẩy quá trình glao lưu văn hóa rộng rãi và sâu sac. Trong giai đoạn lịch sử quan trọng nay, các dân tộc đứng trước hai chọn lựa: hoặc là di vao qui dao chung , qui dao giao tiếp, giao lưu văn hóa để tự cường cái cơ bản-văn hóa vốn có của mình, vươn lên đỉnh cao văn minh; hoặc là TƠI Vào tình trạng co cụm, biệt lập, không giao tiếp để dần dan đi đến thoái héa , lac hau va trước sau cũng bị phụ thuộc , chịu sự chỉ phối của các cộng đồng mạnh hơn. Văn hóa quốc tế hiện nay, hình thành trên cơ sở giao tiếp, ảnh hưởng văn hóa toàn cầu , và khi nó đã hình thành ,, thì lại đang là nhân tố tác động vô cùng mạnh mẽ tới văn hóa các dân tộc , gây ra những biến động , đảo lộn không nhỏ trong phạm vi văn hóa từng tộc người , khu vực và quốc gia. Thái độ của chúng ta trước xu hướng văn hóa này có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong phạm vi văn hóa , mà còn có ý nghĩa đối với toàn bộ các lĩnh vực xã hội con người.

Đóng kín hay mở rộng, tiếp thu các trào lưu văn hóa quốc tế này như thế nào , ở mức độ nào để có những tác động. tích cực đối với việc xây dựng và củng cố - phát triển văn hóa dân tổẻ và quốc ggia là vấn đề có ý nghĩa quốc sách đối với từng nước. Giao tiếp , giao lưu văn hóa đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc đổi mới và phát triển văn hóa từng dân tộc , từng quốc gia. Nó làm phong phú hóa thêm nền văn hóa của mỗi dân tộc , làm cho các dân tộc , các quốc gia xích lại gần nhau hơn.

Tuy nhiên , nếu chúng ta không có một sự hiểu biết đầy đủ và ý thức về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, thì trong quá trình giao tiếp đó, chúng ta sẽ dẫn đánh mất những giá trị văn hóa truyền thống quí báu của dân tộc, mà “ mất văn hóa là mất tất cả ” oe ° | vi vậy , việc nghiên cứu , tìm lại những yếu tố văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc , trên cơ sở đó giữ gìn và phát huy những yếu tố tích cực , tiến bộ , loại bỏ những yếu tố văn hóa lạc hậu , lỗi thời là một việc làm hết sức cần thiết. Việc làm này càng cân thiết hơn vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX này. Khi mà Việt Nam đang hòa nhập vào sự phát triển chung cửa khu vực Đông Nam Á và thế giới. Từng bước xây dựng một Đông Nam Á thống nhất , hữu nghị và hợp tác trên cơ sở tôn trọng chủ quyển và đặc thù về văn hóa của lnỗi dân tộc.

Hòa nhập nhưng không hòa tan , không bị mất hút mình trong đó , quả là một thách đố đối với chúng ta , nhất là trong tình trạng có sự thâm nhập mạnh mẽ của văn hóa phương Tây, thì các yếu tố văn hóa truyền thống của Việt Nam rất đễ bị mai một. Làm thế nào để xây dựng và gìn giữ một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc , kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại:, đó là vấn để đang được các nhà lãnh đạo và nhiều người quan tâm. Hiện nay , song song với việc nghiên cứu , tìm hiểu đặc điểm văn hóa — xã hội của các nước , đặc biệt là các nước trong khu vực Dong Nam A , chúng ta rất coi trọng việc tìm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thật là thiếu sót nếu chỉ hiểu người mà không biết mình.

“ Biết mình biết người ” cũng là phương châm xử thế trong giao tiếp của người Việt Nam từ xưa đến nay. Cũng như các quốc gia trong khu vực Đồng Nam A, Việt Nam là: một quốc gia đa tộc gồm 54 dân tộc. Văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển trên cơ sở giao lưu, ảnh hưởng, chất lọc những tính hoa văn hóa các dân tộc trong tổ quốc Việt Nam , trong đó văn hóa của dân tộc chủ thể là người Việt đóng vai trò quan trọng , 53 dân tộc thiểu số còn lại với những đặc điểm văn hóa riêng của mình góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của cả dân tộc Việt Nam. Phải nhìn nhận rằng , vin hóa cổ truyển các dân tộc ít người trong đó dân tộc Xuông, la mdi t kho bau 'chung : của cả dân tộc , cần được giữ gìn và phát huy.

sĩ Xuất phát từ tầm quan trọng của những vấn để đã nêu trên đây và yêu cầu của xã hội, tôi đã chọn để tài “ BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VĂN HÓA DÂN TỘC XTIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC ” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Vì cho đến nay , việc hiểu biết về văn hóa xã hội của người Xtiêng còn rất hạn chế , chưa có nhiều công trình chuyên sâu. Việc trình bày một cách có hệ thống đặc điểm văn hóa dân tộc Xtiêng sẽ góp ‘phan lam phong phú thêm sự hiểu biết về văn hóa của các dân tộc vùng Tây Nguyên— một sắc hoa trong vườn hoa văn hóa muốn sắc của dân tộc Việt Nam, 2. Lịch sử nghiên cứu vấn dé “Người Xuêng (1) là một dân tộc trong số những dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên~ Đông Nam Bộ _.

Người Xtiêng được người Pháp biết đến khá sớm. Vào thập niên 70 của thế kỷ XIX, các giáo sĩ Thiên Chúa giáo đã đến đây, trong đó có. Aze’mar da suu tap và xuất bản cuốn‘ ‘ Dictionnai Stieng ” năm 1887. Sau ông - (1) Về tên gọi , trong các tác phẩm trước đây gọi là người “Stiêng”, nhưng:các tài liệu mới hiện nay gọi là “Xtiéng” .Vi thế trong luận văn này xin thống nhất với cách gọi mới .' còn có một số học giả người Pháp cũng đã đến tìm hiểu người Xtiêng và vùng cư.

trú của dân tộc: này như A. Baudrit với bài viết “ Le fameux Song Be ”( Sông Bé tuyệt vời) công bố năm 1936; H. Raulin vdi bai “ L’Evolution des Stieng de la delégaton Honquan” ( Sự tiến hóa của người Xtiengở Hớn Quan ) công bế năm 1946. Đây là một công trình đóng góp nhiều cho việc tìm hiểu về dân tộc Xuêng ở Việt Nam.

Đặc biệt là có công trình sưu tập về phong tục tập quan cia Th. Gerber với bộ suu tap “ Coutumier Stieng ” ( Tap quán pháp Stieng ) công bố năm 1951, Tác phẩm này là những tư liệu quí báu về phong tục tập quán của người Xuiéng. Từ sau năm 1954, do nhu cầu của cuộc chiến tranh ở Việt Nam , người Mỹ | đã biên soạn một cuốn sách chỉ dẫn cho quân Mỹ hiểu biết về lich stt , dia ly , phong tục tập quán. các dân tộc thiểu số ở miền Nam Viét Nam “ Minosity groups in the Republic of Vietnam ” ( Các nhóm thiểu số ở Việt Nam cộng hoa ).

đó có chương về người Xtiêng, những phần nhiễu tư liệu đều lấy trong các công trình nghiên cứu của các tác giả người Pháp. Về tác giả người Việt thì các công trình nghiên cứu về người Xtiêng trước năm 1975 không nhiều lắm. Trong những tập sách giới thiệu về các sắc tộc ở miễn Nam Việt Nam, các tác giả Cửu Long Giang, Toan Ánh. có nhắc đến người Xtiêng nhưng rất hạn chế.

Nhìn chung , việc nghiên cứu người Xuiêng trước năm 1975 với các công trình nghiên cứu của người Pháp , người Mỹ và các tác giả người Việt chưa thật phong phú, chủ yếu là những bài giới thiệu khái quát về người Xtiêng với tư cách là một dân tộc còn trong tình trạng chậm phát triển. Nhưng đù sao , những tác phẩm này , đặc biệt là các công trình của người Pháp, cho đến nay vẫn là những tài liệu quí gia , giúp cho việc nghiên cứu người Xuêng rất nhiều. Từ sau 1975 , vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: là nơi thu hút nhiều nhà dân tộc học trong và ngoài nước tìm về nghiên cứu các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Xtiêng (1). Đáng kể là hoạt động nghiên cứu của Ban Dân tộc học thuộc Viện KHXH tại TP.Hồ Chí Minh hợp tác với UBND Tỉnh Sông Bé, điều tra và khảo sát dân tộc Xtiêng và các dân tộc thiểu số ở tỉnh Sông Bé vào năm 1984.

Và đã cho xuất bản tập sách “ Vấn đề dân tộc ở Sông Bé ” năm 1985 , do Giáo sư Mạc Đường chủ biên , cùng với các tác giả Phan An, Nguyễn Thị Hòa, Phan Ngọc (1) Tháng chín năm. 1993, một đoàn nghiên cứu của trung tầm giáo dục âm nhạc thế giới thuộc tổ chức ERTH WATCH do G.S Nguyễn Thuyết Phong ở trường Đại học Kent Bang OHIO” của Mỹ dẫn đầu: đến tìm hiểu âm nhạc cổng chiêng ở tỉnh Bình Phước, ˆ - Chiến. Đây là tập sách đáng giá ngàn vàng, góp phan làm sáng tỏ thêm nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ