Luận văn: Các dân tộc và vấn đề dân tộc ở Liên bang Myanmar

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết 'Các dân tộc và vấn đề dân tộc ở liên bang myanmar khóa luận tốt nghiệp đại học': { "ai_description": "Tìm hiểu

Trường đại học

Đại học Mở - Bán công TP. Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Văn hóa Đông Nam Á

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp đại học

1998

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về dân tộc và vấn đề dân tộc ở Liên bang Myanmar

Liên bang Myanmar là quốc gia đa dân tộc với hơn 135 nhóm sắc tộc được công nhận chính thức, chiếm khoảng 68% dân số. Sự đa dạng này bắt nguồn từ vị trí địa lý chiến lược, nơi giao thoa giữa Nam Á và Đông Nam Á. Các nhóm dân tộc chính bao gồm người Bamar (đa số), Karen, Shan, Kachin, Chin, Mon và Rakhine, mỗi nhóm sở hữu ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống riêng biệt. Vấn đề dân tộc ở Myanmar trở nên phức tạp do xung đột sắc tộc kéo dài, tranh chấp lãnh thổ và bất bình đẳng kinh tế-xã hội. Chính phủ trung ương thường xuyên đối mặt thách thức trong việc duy trì đoàn kết quốc gia trước những đòi hỏi tự trị của các nhóm sắc tộc. Sự can thiệp của quân đội từ năm 1962 đã tạo nên mô hình chính trị đặc thù, vừa thúc đẩy nhất thể hóa vừa gây ra căng thẳng dai dẳng. Hiểu rõ bối cảnh này là nền tảng để phân tích các vấn đề dân tộc hiện nay.

1.1. Sự hình thành đa dạng tộc người Myanmar

Lịch sử hình thành các tộc người Myanmar bắt nguồn từ sự di cư và giao thoa văn hóa qua nhiều thế kỷ. Người Bamar (hay Miến Điện) di cư từ Tây Tạng và Vân Nam vào thế kỷ thứ 9, dần dần thiết lập vương quốc Bagan (thế kỷ 11-13). Các nhóm sắc tộc khác như Karen, Mon và Rakhine có nguồn gốc từ các vùng khác nhau của Đông Nam Á. Sự đa dạng được củng cố bởi địa hình núi non chia cắt, tạo điều kiện cho sự phát triển độc lập của từng nhóm. Đến thời kỳ thuộc địa Anh (1886-1948), chính sách chia để trị đã làm trầm trọng thêm sự phân hóa sắc tộc. Sau độc lập năm 1948, Hiến pháp năm 1947 công nhận 8 nhóm sắc tộc chính thức, nhưng những mâu thuẫn vốn có vẫn tiếp tục bùng phát.

1.2. Ảnh hưởng của địa lý đến phân bố dân tộc

Địa hình Myanmar gồm ba vùng chính: vùng núi phía bắc (Kachin, Chin), vùng cao nguyên Shan (người Shan, Wa) và vùng đồng bằng trung tâm (người Bamar). Sự phân bố này ảnh hưởng sâu sắc đến sinh kế và văn hóa của từng nhóm. Người Shan và Wa sinh sống ở vùng cao nguyên phía đông, phát triển nền nông nghiệp nương rẫy. Người Kachin ở vùng núi phía bắc theo tín ngưỡng đa thần và có truyền thống săn bắt. Trong khi đó, người Bamar tập trung ở vùng đồng bằng phì nhiêu, phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Sự khác biệt về môi trường sống đã tạo nên những nét văn hóa độc đáo, nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến xung đột lãnh thổ.

II. Phân tích các vấn đề dân tộc nổi cộm tại Myanmar

Myanmar đang đối mặt với ba vấn đề dân tộc chính: xung đột vũ trang, bất bình đẳng kinh tế và xung đột tôn giáo. Xung đột vũ trang dai dẳng giữa quân đội trung ương (Tatmadaw) và các nhóm vũ trang sắc tộc (EAOs) đã kéo dài hơn 70 năm, gây ra thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Bất bình đẳng kinh tế thể hiện rõ khi người Bamar chiếm ưu thế trong các vị trí chính trị và kinh tế, trong khi các nhóm sắc tộc thiểu số thường bị đẩy vào tình trạng nghèo đói. Xung đột tôn giáo, đặc biệt giữa người Phật giáo (đa số Bamar) và người Hồi giáo Rohingya, đã dẫn đến bạo lực và di cư hàng loạt. Những vấn đề này không chỉ đe dọa sự ổn định quốc gia mà còn ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế của Myanmar.

2.1. Xung đột vũ trang giữa trung ương và sắc tộc

Xung đột vũ trang bắt nguồn từ việc chính phủ trung ương từ chối trao quyền tự trị cho các nhóm sắc tộc, trong khi họ đòi hỏi quyền tự quyết theo Hiến pháp năm 1947. Các nhóm vũ trang sắc tộc như Liên minh Dân tộc Karen (KNU), Quân đội Giải phóng Quốc gia Kachin (KIA) và Quân đội Liên minh Dân tộc Wa (UWSA) đã chiến đấu để giành quyền tự trị hoặc độc lập. Những thỏa thuận ngừng bắn từng đạt được nhưng thường tan vỡ do thiếu cam kết lâu dài. Quân đội Myanmar sử dụng vũ lực để dẹp loạn, dẫn đến thiệt hại về nhân mạng và di cư cưỡng bức. Những xung đột này cũng thu hút sự can thiệp của các cường quốc khu vực như Trung Quốc.

2.2. Bất bình đẳng kinh tế xã hội giữa các nhóm

Bất bình đẳng kinh tế thể hiện rõ trong phân bố nguồn lực giữa vùng trung tâm (người Bamar) và vùng biên giới (sắc tộc thiểu số). Người Bamar chiếm ưu thế trong hệ thống giáo dục, y tế và dịch vụ công, trong khi các nhóm sắc tộc thiểu số thường bị bỏ lại phía sau. Các dự án khai thác tài nguyên như thủy điện, khai thác gỗ và mỏ thường được triển khai ở vùng sắc tộc, gây ra xung đột đất đai và ô nhiễm môi trường. Chương trình phát triển kinh tế-xã hội của chính phủ thường thiên vị vùng trung tâm, làm trầm trọng thêm sự phân hóa. Những bất bình đẳng này là nguồn cơn của nhiều phong trào đòi quyền lợi của sắc tộc thiểu số.

III. Giải pháp quản lý vấn đề dân tộc tại Myanmar

Giải quyết vấn đề dân tộc tại Myanmar đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách chính trị, kinh tế và xã hội. Về mặt chính trị, cần thúc đẩy đối thoại hòa bình giữa chính phủ và các nhóm vũ trang sắc tộc, đồng thời tăng cường vai trò của các cơ quan trung gian như Liên Hợp Quốc hoặc ASEAN. Kinh tế, việc phân bổ nguồn lực công bằng giữa các vùng và nhóm sắc tộc là yếu tố then chốt để giảm bất bình đẳng. Xã hội, giáo dục đa ngôn ngữ và tôn trọng đa văn hóa sẽ góp phần xây dựng sự đoàn kết quốc gia. Giải pháp dài hạn phải dựa trên sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm cả cộng đồng quốc tế.

3.1. Đối thoại hòa bình và trao quyền tự trị

Đối thoại hòa bình là giải pháp then chốt để chấm dứt xung đột vũ trang. Chính phủ Myanmar đã ký thỏa thuận ngừng bắn với nhiều nhóm vũ trang sắc tộc, nhưng những thỏa thuận này thường thiếu cam kết lâu dài. Để đạt được hòa bình bền vững, cần thúc đẩy đối thoại đa phương với sự tham gia của tất cả các bên, bao gồm cả các nhóm vũ trang, xã hội dân sự và cộng đồng quốc tế. Trao quyền tự trị cho các vùng sắc tộc theo mô hình liên bang là hướng đi khả thi, nhưng đòi hỏi sự thỏa hiệp từ cả hai phía. Các mô hình như Thụy Sĩ hoặc Canada có thể là bài học tham khảo cho Myanmar.

3.2. Phát triển kinh tế công bằng giữa các vùng

Phát triển kinh tế công bằng là chìa khóa để giảm bất bình đẳng giữa các nhóm sắc tộc. Chính phủ cần đầu tư vào hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế tại các vùng biên giới, nơi tập trung đông đảo sắc tộc thiểu số. Các dự án khai thác tài nguyên phải tuân thủ nguyên tắc tham vấn cộng đồng và chia sẻ lợi ích công bằng. Chương trình xóa đói giảm nghèo cần ưu tiên cho các nhóm dễ bị tổn thương, bao gồm phụ nữ và trẻ em. Hợp tác kinh tế khu vực, chẳng hạn như dự án Hành lang Kinh tế Đông-Tây, cũng có thể góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu về dân tộc Myanmar

Nghiên cứu về dân tộc và vấn đề dân tộc tại Myanmar cho thấy sự phức tạp của bối cảnh chính trị-xã hội nước này. Các vấn đề như xung đột vũ trang, bất bình đẳng kinh tế và xung đột tôn giáo không thể giải quyết trong ngắn hạn mà đòi hỏi những giải pháp toàn diện và lâu dài. Chính phủ Myanmar cần thay đổi cách tiếp cận từ quản lý bằng vũ lực sang quản lý bằng đối thoại và chia sẻ quyền lực. Cộng đồng quốc tế có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quá trình hòa giải và phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng vào các quốc gia đa sắc tộc khác, đồng thời cung cấp cơ sở lý luận cho các chính sách quản lý dân tộc tại Myanmar.

4.1. Bài học từ kinh nghiệm quốc tế

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy các mô hình quản lý dân tộc thành công đều dựa trên ba nguyên tắc: đối thoại, trao quyền tự trị và phát triển kinh tế công bằng. Tại Canada, chính phủ đã trao quyền tự trị cho các vùng thổ dân thông qua Đạo luật thổ dân năm 1982. Tại Thụy Sĩ, mô hình liên bang với quyền tự trị rộng rãi cho các bang đã góp phần duy trì hòa bình trong hơn 200 năm. Tại New Zealand, chính phủ đã thừa nhận quyền của người Māori thông qua Hiệp ước Waitangi năm 1840. Những bài học này có thể áp dụng vào bối cảnh Myanmar, nhưng cần điều chỉnh phù hợp với điều kiện địa phương.

4.2. Đề xuất chính sách cho chính phủ Myanmar

Chính phủ Myanmar cần xây dựng một chiến lược quốc gia về quản lý dân tộc, bao gồm cải cách hiến pháp, phân bổ nguồn lực công bằng và thúc đẩy đối thoại hòa bình. Cải cách hiến pháp cần trao quyền tự trị rộng rãi hơn cho các vùng sắc tộc, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người thiểu số. Phân bổ nguồn lực công bằng đòi hỏi tăng đầu tư vào hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế tại các vùng biên giới. Thúc đẩy đối thoại hòa bình cần có sự tham gia của tất cả các bên, bao gồm cả các nhóm vũ trang, xã hội dân sự và cộng đồng quốc tế. Những đề xuất này có thể giúp Myanmar vượt qua những thách thức dân tộc hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Các dân tộc và vấn đề dân tộc ở liên bang myanmar khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu bằng triéu đại của vua Alaungpayh đánh dấu sự suy thoái của “vương quốc Myanmar. Trong giai đoạn này đã diễn ra nhiều cuộc tranh chấp giữa Myanmar với các nước láng giéng va cdc cuộc chiến tranh với Anh. Hsinbyushin đã đưa quân đánh thủ đô Siam là Ayuthia. 1873, vua Bodawpaya đã đưa quân ra biên giới của An Độ thuộc Anh.

1824, cuộc chiến tranh Anh-Miến lần 1 diễn ra, Myanmar bị đánh bại và - nhường Arakan và Tenasserim cho Anh. 1852, chiến tranh Anh-Miến lần 2 nổ ra, người Anh đã kiểm soát được vùng Hạ Miến. 1885, Myanmar chiến tranh với Anh lần thứ 3, vua Thibaw bi day sang An D6 va Myanmar được cai trị như là một phần của Ấn Độ thuộc Anh. Thời thuộc Anh (1886 - 1942).

Năm 1886, sau 3 cuộc chiến với Anh, Myanmar trở thành thuộc địa của __ Anh. Ba cuộc chiến này xuất phát từ những lợi ích kinh tế và chính trị của Anh ở Myanmar. Lần thứ nhất, Myanmar đã đánh mất Arakan và Tenasserim. Lần 2 thì Anh - thôn tính Hạ Miến để lấp vào khoảng trống giữa Calcutta và Singapore.

Đến 1885 thì - triểu đại của vị vua cuối cùng của Myanmar đã cố gắng hợp tác với thế giới bên ngoài, đặc biệt là Pháp. Người Anh lo sợ Pháp chen chân vào và cũng muốn một sự độc quyền về gỗ teak nên đã lợi dụng cuộc tranh chấp giữa Myanmar và một công ty gỗ của Anh bị buộc tội khai thác gỗ bất hợp pháp để làm cái cớ đưa quân sang Mandalay. Năm 1886, toàn bộ Myanmar đã trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh, và gia đình hoàng gia đã bi day sang An Độ. (ae déu tác uà uấu đệ dâu tác È điêu Cang Myanmar | Người Anh đã đưa ra nguyên tắc “chia dé trị” cổ điển, cho phép các bang thiểu số tự cai trị bổi những nhà lãnh đạo của họ.

Họ không tuyển mộ người Miến vào quân đội của họ. Toàn bộ những vị trí quan trọng trong ngành hành chính đều do người Ấn hoặc những người nước ngoài khác nắm giữ. Tài nguyên của Myanmar bị người nước ngoài khai thác và lợi nhuận được chuyển ra khỏi đất nước. Người Anh cho phép người Ấn Độ di cư sang Myanmar để nhằm giảm bớt sự thiếu thốn lao động trên những đồng lúa.

Tất cả những chỉ tiết này đã dẫn đến sự nổi dậy của những nhà chủ nghĩa dân tộc chống lại Anh. Vào những năm đầu thế kỷ XX, phong trào chủ nghĩa dân tộc dưới sự lãnh đạo của Hội Phật Giáo Thanh Niên (YMBA) và các nhà lãnh đạo sinh viên đại học Rangoon đã ngày càng lớn mạnh. Trong suốt chiến tranh Thế giới H, anh hùng dân tộc Aung San đã lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại Anh và Nhật- những người đã chiếm đất nước trong suốt chiến tranh. Sau chiến tranh, cuối cùng, người Anh cũng phải trao trả độc lập cho Myanmar.

Sau độc lập Liên bang Myanmar chính thức độc lâp bắt đầu từ ngày 4/1/1948. Sau khi giành độc lập thì đất nước Myanmar vẫn còn chưa ổn định với những cuộc khởi nghĩa của những dân tộc thiểu số đòi quyền tự trị và : những người cộng sản chọn con đường bí mật. Sự thật thì những cuộc khởi nghĩa này vẫn còn kéo dài hơn 40 năm kể từ khi độc. Cuộc bầu cử lẽ ra được tổ “chức ngay sau khi độc lập đã được tổ chức vào năm 1951 sau khi quân đội đã cố kìm hãm lại vấn để khởi nghĩa và lấy lại quyền kiểm soát đất nước.

Trong cuộc bầu cử này Liên minh Nhân dân Tự do chống Phát xít (AFPFL) đã giành thắng lợi. Đẳng chính trị này là một nhánh của tổ chức chống Phát xít, một Đẳng bí mật hình thành trong thời gian Nhật chiếm đóng. Vấn để khởi nghĩa tiếp tục quấy rầy chính phủ mới. Những dự án phát triển kinh tế được thi hành nhưng không mang lại thành công.

Kim ngạch xuất khẩu giảm do - su suy gidm trong kim ngạch xuất khẩu gạo và việc thu ngân sách trong nước bị cần trở bởi những cuộc khởi nghĩa. Cuối những năm 50, với nền kinh tế ì ach, AFPFL đã chia rẽ thành 2 nhóm: thời “sạch” và “kiên định”. Sau những cuộc chạm trán vũ trang thì một chính phủ lâm lâm được thành lập vào 1956 để tiếp quan | đất nước. Sau hai năm đưới thời chính phủ nên thời do Tướng Newin nắm quyền thì nền kinh tế đã tiến triển, thủ đô Rangoon trở sạch hơn, các phòng ban chính phủ thì có hiệu quả hơn.

Cuộc bầu cử được tổ chức năm 1960 đưa đất nước trở về hệ thống cai trị dân sự. AEPFL “sạch”, nay được biết đến cái tên Đẳng Pyidaungsu, đã giành thắng lợi. U Nu trở lại vị trí cầm quyển của mình. Tuy nhiên, vấn để khởi nghĩa trở nên ác liệt hơn 15 (ác dâu tắc ud vdu dé daw tic & Ltén bang Wyaumar khi người Shan mong muốn một sự ly khai.

2/1962, lực lượng quân đội lại một lần nữa nhúng tay vào và đã tiếp quản chính quyển sau một cuộc đảo chánh. Chính quyền quân sự hay được gọi là Chính phủ Cách mạng bao gồm 17 thành viên cao cấp của lực lượng quân đội do Tướng Ne Win đứng đầu được thành lập. Chính phủ Cách mạng đã tuyên bố mục tiêu XHCN của mình. Năm 1974, một hiến pháp mới được thông qua sau một cuộc trưng cầu ý dân.

Đất nước được mang tên Liên bang CHXHCN Miến Điện và Đảng Cương lĩnh - XHCN (BSPP) là Đẳng chính trị duy nhất được phép hoạt động. Năm 1988, những cuộc biểu tình của sinh v viên đã dẫn đến cuộc đảo chính quân sự. Chính phủ mới đặt dưới sự điều hành của “Ủy ban Khôi phục Trật tự và Luật pháp Quốc gia” (SLORC) đã đổi tên nước thành Liên bang Myanmar, đổi tên thủ đô thành Yangon. Ne Win từ chức và Tướng Saw Maung -một luật sư được phương Tây đào tạo và là bạn thân của Ne Win- lên nắm chính quyền.

Trong cuộc bầu cử được tổ chức vào năm 1989, Đảng Liên minh Dân tộc Vì Dân chii (NLD) do bà Aung San Suu Kyi đứng đầu dã giành thắng lợi. Tuy nhiên, giới quân sự dưới sự điêu hành của SLORC đã không công nhận kết quá của cuộc bầu cử và _ cho bắt giam nhiều lãnh tụ đối lập. Bà Aung San Suu Kyi bị giam lỏng tại nhà. Năm 1992, Tướng Than Shwe lên làm chủ tịch Ủy ban khôi phục trật tự và luật pháp quốc gia (SLORC) thay thế tướng Saw Maung.

Tháng 12/1993, Khun Sa -một trùm thuốc phiện ở khu vực Tam Giác Vàng, đã tuyên bố độc lập cho lãnh thổ của hắn. Đây là một vùng rộng lớn ở bang Shan nằm _ về phía Tây Bắc Thái Lan. Họ đã thảo ra một bản “Hiến pháp tạm thời” trước khi bầu ˆra theo theo phương cách dân chủ của Hoa Kỳ 70 thành viên “Quốc hội” gổm một Phòng đại biểu và một Thượng viện. Tất nhiên Quốc hội đó đã chỉ định Khun Sa làm Tổng thống.

Khun Sa có trong tay từ 15. Tháng 12/1994, Tướng Than Shwe đã gặp mặt bà Aung San Suu Kyi va sau đó bà được phóng thích. Ngày nay, chính phú Myanmar đã kiểm soát hầu hết đất nước, nhưng bọn nổi loạn mà chủ yếu là những người khởi nghĩa dân tộc và tội phạm chiến tranh đã nắm giữ nhiều vùng miền núi ở biên giới Myanmar. Phần nhiều trong số những nhóm này đã kiếm sống bằng việc buôn lậu thuốc phiện.

SLORC đã từng đàm phán sự về ngừng tiếp - bắn và đưa ra để nghị về sự tự trị của những nhóm này, và thậm chí cho phép họ. tục buôn bán thuốc phiện. Mục đích của việc đẩy nhanh sự thỏa hiệp và liên minh với _ họ là để đạt được hòa bình. (ác dâu tâc uà uấu đề dâu tác ở “điêu bang Myanmar Đến năm 1996, sau nhiễu cuộc vây ráp của chính phủ Myanmar kết hợp với các lực lượng quốc tế, Khun Sa chính thức đầu hàng chính phủ Myanmar và chịu sự xét xử của chính quyền theo luật pháp otcủa quốc gia này.

Tháng 11/1997, cơ cấu ban lãnh đạo Myanmar có sự thay đổi, Hội đồng Nhà nước vì Hòa bình và Phát triển (SPDC) đã ra đời thay thế cho Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Quốc gia (SLORC), Hiến pháp mới đang được soạn thảo để tiến tới bầu cử ra một chế độ chính trị đa dang’. Đặc điểm về kinh tế Myanmar" 1. Quá trình phát triển kinh tế (từ khi độc lập). Kế hoạch Pidota (hay kế hoạch “ Hạnh phúc, thịnh vượng *) (1952-1960) - Về công nghiệp: Thu hút vốn đầu tư của tư bản nước ngoài để hiện đại hóa nền công nghiệp; đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề; lập ra 3 trung tâm công nghiệp trong cả nước; khôi phục hoạt động các quặng, mỏ.

-Về nông nghiệp: Hạn chế sở hữu về ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân (mỗi hộ ít nhất là 0,1ha), cấm mua bán ruộng đất, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp cả trồng trọt và chăn nuôi. Theo dự kiến thì đầu tư cho kế hoạch Pidota là 7,5 ti Kyat, trong dé 5,5 ti Kyat là dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Trong thời gian 1952-1953, kết quả thu được khả quan. Nhưng vào năm của 1955, giá gạo thế giới giảm mạnh ảnh hưởng đến nguồn thu ngoại tệ quan trọng hình biến Myanmar, đồng thời các công ty tư bản ngừng đầu tư tại Myanmar do tình Đến năm động chính trị ở Châu Á.

Vì lẽ đó, kinh tế đất nước ngày càng khó khăn. cơ sở công 1961, vẫn còn 1 triệu nông dân phải thuê mướn ruộng đất và 06% các nghiệp vẫn còn sắn xuất thủ công lạc hậu. Kế hoạch Pidota cuối cùng bị thất bại và hủy bỏ. Giai đoạn phát triển kinh tế từ 1962 đến nay _ *Thời kỳ xây dựng kinh tế theo mô hình XHCN (1962 - 1974) tr.

3 Theo Tạp chí Việt Nam - Đông Nam Á Ngày Nay, số 11 tháng 6-1998, trình Kính tế các nước Đông Nam A (luc * Có sử dụng các số liệu của Th. Lê Vinh Danh, trong giáo địa), Khoa Đông Nam A hoc- ĐH-Mỏ-BG-TPHGM+-096. TRUONG CALC Cử TP.iỢH ` THƯ VIỆN og _ + on (ác dâu tác uà uấuw dê dâu tác ở điêu Caug Wyeaumar Mục tiêu xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện đại trên cơ sở phát triển nông nghiệp. Từ năm 1963, chính phủ bắt đầu quốc hữu hoá các công ty, xí nghiệp, ngân hàng, hãng buôn của tư bản nước ngoài và tư bản trong nước cỡ lớn.

Xây dựng bộ phận kinh tế quốc doanh trở thành bộ phận chủ đạo. Trong nông nghiệp, ban hành những luật lệ bảo vệ quyền lợi của nông dân, hạn chế quyền lợi của giới đại điển chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ