Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trong chương này, các vấn đề mang tính lí luận như: Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh bậc THCS, khái niệm, mục tiêu, đặc trưng, tiến trình dạy học hiện đại trong dạy học vật lí ở trường THCS nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động, tích cực, bồi dưỡng năng lực sáng tạo, hợp tác của người học, đánh giá năng lực trong dạy học hiện đại, các biện pháp phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học vật lí cấp THCS, cách tổ chức các hoạt động dạy – học trong dạy học hiện đại. Ngoài ra, luận văn còn đề cập đến thực trạng của việc dạy và học một số kiến thức trong chương Điện học, Vật lí lớp 7 tại trường THCS Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội. Một số vấn đề về dạy học hiện đại 1. Khái niệm Trong chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực, năng lực được định nghĩa như sau: - Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành.
- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành năng lực. - Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn, … - Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hoá các nội dung, hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp. - Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống, nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản. - Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học.
- Năng lực cá nhân được hiểu là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà người học cần phải có, thể hiện ổn định, đáp ứng yêu cầu học tập 13 z và là yếu tố giúp một cá nhân học tập hiệu quả hơn so với những người khác. - Năng lực tự học là: nội lực phát triển bản thân của người học, đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới sáng tạo trong công việc hàng ngày của mình. - Để hình thành năng lực tự học cho học sinh, cần có một số giải pháp sau: Đổi mới phương pháp giảng dạy, không chỉ dạy kiến thức mà tập trung dạy cách học, phương pháp học tập, phương pháp tự học. Học sinh phải được học thông qua hoạt động, vui chơi và tăng cường học từ thực tế, từ thực tiễn, tập làm các nhà khoa học nhỏ.
Khuyến khích và khơi gợi học sinh tự tìm hiểu, tự khám phá kiến thức thông qua các phương pháp dạy học tích cực như học theo dự án, nêu vấn đề, theo tình huống. - Tính tích cực: là phẩm chất vốn có của con người, vừa là điều kiện vừa là kết quả của quá trình phát triển nhân cách trong giáo dục. Các yếu tố cấu thành năng lực Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau.
Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Năng lực chuyên môn (Professional competency): là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách động lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với các khả năng nhận thức và tâm lí vận động. Năng lực phương pháp (Methodical competency): là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội (Social competency): là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. 14 z Năng lực cá thể (Induvidual competency): là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Các năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau.
Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực nghề nghiệp của giáo viên bao gồm những nhóm cơ bản sau: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực đánh giá; chuẩn hoá và tư vấn; năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. Từ cấu trúc trên ta thấy, giáo dục định hướng năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không thể tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ.
Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này. Trong chương trình dạy học hiện nay, người ta chia năng lực thành hai nhóm chính, đó là năng lực chung và các năng lực chuyên môn. Nhóm năng lực chung gồm: • Khả năng hành động độc lập thành công. • Khả năng sử dụng công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ.
• Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất. Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt. Ví dụ nhóm năng lực chuyên môn trong môn Vật lí bao gồm các năng lực sau đây: Bảng 1.1: Bảng các năng lực chuyên môn trong Vật lí. Nhóm Năng lực thành phần trong môn Vật lí năng lực Nhóm NLPT HS có thể: liên quan đến - K1: Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại 15 z sử dụng kiến lượng, định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng thức vật lí số vật lí.
- K2: Trình bày được mối quan hệ giữa các kiến thức vật lí. - K3: Sử dụng được kiến thức vật lí để thực hiện các nhiệm vụ học tập. - K4: Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp …) kiến thức vật lí vào các tình huống thực tiễn. HS có thể: - P1: Đặt ra những câu hỏi về một sự kiện vật lí.
- P2: mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ vật lí và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tượng đó. - P3: Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lí thông tin từ các nguồn khác nhau để giải quyết vấn đề trong học tập vật lí. Nhóm NLTP về phương - P4: Vận dụng sự tương tự và các mô hình để xây dựng pháp (tập kiến thức vật lí. trung vào - P5: Lựa chọn và sử dụng các công cụ toán học phù hợp năng lực thực trong học tập vật lí.
nghiệm và - P6: chỉ ra được điều kiện lí tưởng của hiện tượng vật lí. năng lực mô - P7: đề xuất được giả thuyết; suy ra các hệ quả có thể kiểm hình hóa) tra được. - P8: xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét. - P9: Biện luận tính đúng đắn của kết quả thí nghiệm và tính đúng đắn các kết luận được khái quát hóa từ kết quả thí nghiệm này.
16 z HS có thể - X1: trao đổi kiến thức và ứng dụng vật lí bằng ngôn ngữ vật lí và các cách diễn tả đặc thù của vật lí. - X2: phân biệt được những mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ vật lí (chuyên ngành). - X3: lựa chọn, đánh giá được các nguồn thông tin khác nhau. - X4: mô tả được cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các Nhóm NLTP thiết bị kĩ thuật, công nghệ.
trao đổi thông tin - X5: Ghi lại được các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm …). - X6: trình bày các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm …) một cách phù hợp. - X7: thảo luận được kết quả công việc của mình và những vấn đề liên quan dưới góc nhìn vật lí. - X8: tham gia hoạt động nhóm trong học tập vật lí.
HS có thể - C1: Xác định được trình độ hiện có về kiến thức, kĩ năng, thái độ của cá nhân trong học tập vật lí. Nhóm NLTP - C2: Lập kế hoạch và thực hiện được kế hoạch, điều chỉnh liên quan đến kế hoạch học tập vật lí nhằm nâng cao trình độ bản thân. cá nhân - C3: chỉ ra được vai trò (cơ hội) và hạn chế của các quan điểm vật lí đối trong các trường hợp cụ thể trong môn Vật lí và ngoài môn Vật lí. - C4: so sánh và đánh giá được - dưới khía cạnh vật lí- các 17 z giải pháp kĩ thuật khác nhau về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
- C5: sử dụng được kiến thức vật lí để đánh giá và cảnh báo mức độ an toàn của thí nghiệm, của các vấn đề trong cuộc sống và của các công nghệ hiện đại. - C6: nhận ra được ảnh hưởng vật lí lên các mối quan hệ xã hội và lịch sử. Phương pháp dạy học phát triển năng lực không chỉ tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội.